![]() |
| Ảnh: trâu kéo cày - internet |
Nhù thò bhi dzà: Lễ tạ ơn "Đầu cơ nghiệp" đầy nhân văn của người Hà Nhì
Độc đáo Lễ khai mùa "Hiá qhia đọ" của người Hà Nhì
1. Thời điểm gieo duyên cùng đất trời
2. Cây "Lha qhá" và hành trang của lòng thành kính
3. Hành trình nghi lễ: Sự kết hợp nhịp nhàng giữa "Âm" và "Dương"
Sứ mệnh thiêng liêng của người phụ nữ
Vai trò kết nối của người đàn ông
4. Triết lý nhân sinh sâu sắc đằng sau "Hiá qhia đọ" của người Hà Nhì
Tết mùa mưa (zé qhừ dzà) - bản hòa ca cầu mùa linh thiêng của người Hà Nhì
1. Thời điểm khai hội:
2. Hành trình lễ hội:
Ngày thứ nhất (Ngày Tỵ) - Gắn kết cộng đồng và hướng về nguồn cội:
![]() |
| (Ảnh: Bọn trẻ nô nức chơi đu) |
Nói thêm về cây đu "á gư ká tu" là một cây đu lớn được dựng ngay cạnh cổng bản, cây đu được dựng từ 4 thân cây để nguyên ngọn cây, hai cây một đan chéo ngọn và nối vào nhau bằng một đoạn thân cây làm xà buộc dây đu, bàn đu tức chỗ để người đu đứng để đu được đẽo từ một đoạn gốc cây, có một nét văn hóa đặc trưng xuất hiện trên bàn đu này mà theo khoa học văn hóa gọi đó là văn hóa phồn thực, cụ thể trên một đầu bàn đu được các anh thanh niên khéo léo đẽo thành hình đầu “của quý” rất hoành tráng khi dựng cây đu sẽ hiện lên một hình tượng sừng sững đầu "của quý" hiên ngang hướng ra phía ngoài cổng bản như một linh vật bảo hộ vậy. Đó là một nét văn hóa được lưu truyền từ ngàn xưa và bản thân tác giả vẫn chưa lý giải được vì sao ông cha ta lại lấy hình tượng này, có lẽ đó là biểu tượng của sự phát triển, biểu tượng gieo mầm sự sống và sự sinh sôi của một giống nòi. Vào những ngày nghỉ lễ đặc biệt là buổi tối ở cổng bản, cây đu là không gian vui chơi của thanh niên trai gái tập trung thay phiên nhau nô nức chơi đu, có những anh thanh niên khỏe mạnh đu cao đến mức với được ngọn cây đu gọi là "chsé pạ trư" - hái lá lúa, đó là những màn thể hiện lòng gan dạ, bản lĩnh của thanh niên tuổi mới lớn.
Ngày thứ hai (Ngày Ngọ) - Tình thân gắn kết:
Ngày thứ ba (Ngày Mùi) - "No khè đu":
Ngày thứ tư (Ngày Thân) - "À phùy phùy hiá lho" gắn kết tâm linh:
3. Những ngày kiêng kỵ và nghi lễ "phạt" cúng bản
Ngày thứ năm (Ngày Ất - Ngày con Gà):
Đến ngày Tý (ngày con Chuột) - "Hu lho" kiêng con chuột:
Đến ngày Sửu (con trâu) - Nghi lễ "A bhó nhẹ" (bắt châu chấu, sâu bọ):
Lời Kết
Biên soạn: Cao A Gó
Gà ma djí dzò - Lễ cúng thần đất, thần rừng, thần nước của người Hà Nhì ở Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
Gà Ma Djí Dzò: Khúc hoan ca tạ ơn đất trời của người Hà Nhì
Thời điểm khai hội và chu kỳ tuần trăng linh thiêng
Thứ tự các ngày trong 01 tuần trăng được xác định như sau: Tỵ->Ngọ->Mùi->Thân->Ất->Tuất->Hợi->Tý->Sửu->Dần->Mão->Thìn->(Tỵ)
Hành trình diễn xướng các nghi lễ:
1. “Ló Khọ Sò” – nghi thức cúng thần nước (chiều ngày Tỵ)
![]() |
| (ảnh: ông Lý trưởng và lý phó dự bữa cơm cúng "ló khọ sò" bên cạnh máng nước) |
Nghi thức được thực hiện tại đầu nguồn:
Rước nước thiêng và chia lộc:
![]() |
| (ảnh: bà con mổ lợn chia xuất để cúng tổ tiên) |
2. Gà Ma Dzò – bữa cơm cộng đồng thắt chặt tình thân (chiều ngày Ngọ)
![]() |
| (ảnh: Bữa cơm tại nhà ông lý trưởng) |
Góp cỗ chung vui:
Cây lộc "Su ní" và món nướng "Dzá piư":
Mâm cơm nội thất:
3. Djí Dzò – ngày hội may mắn và tái thiết bản làng (ngày Thân)
Buổi sáng – Sắc màu xôi nhuộm và Lễ "Mí xó lhó":
Buổi trưa chiều – Nghi thức "Hò luy dze" (Ném cơm may mắn):
![]() |
| (ảnh: Trang trí Cổng bản) |
Buổi tối – Nghi thức trấn giữ cổng bản:
4. Ngày khép lễ (ngày Ất)
Lời kết
Biên soạn: Cao A Gó
Âm tắc họng - hiện tượng đặc biệt trong ngữ âm tiếng Hà Nhì
Có một điều đặc biệt là âm tắc họng chỉ xuất hiện đối với các từ có thanh điệu ngang (không dấu) điều này xuất phát từ đặc điểm của âm vị không có thanh điệu là âm vị trung tính có thể biến đổi nhiều dạng âm khác nhau mà vẫn giữ trường độ âm thanh, trong khi các âm vị chứa thanh điệu như dấu sắc ( ՛ ), dấu huyền ( ` ), dấu nặng ( . ) bản thâm âm vị đã phần nào chứa đựng hiện tượng tắc họng.
Để làm rõ đặc điểm của âm tắc họng trong tiếng Hà Nhì ta xét các cặp ví dụ có xuất hiện của âm tắc họng như sau:
y na - bản chất của sự vật, hoặc chỉ một thuộc tính đặc trưng của sự vật (vd: Djò đhúy đhúy ư lò à ju y na - Lười là bản tính của của nó)
y naq - màu đen (vd: Phí khò hi mó y naq - Chiếc áo này màu đen)
So sánh sự giống và khác nhau khi có hoặc không có "q" ở đây từ "na" về bản chất cách viết hoàn toàn giống nhau đều là sự kết hợp của phụ âm "n" và nguyên âm "a", nếu giả sử ta không sử dụng phương pháp đánh dấu thêm "q" vào phía cuối từ thì lúc này từ "y naq" (màu đen) thành "y na" nghĩa là "bản chất của sự vật, hoặc chỉ một thuộc tính đặc trưng của sự vật" vì vậy muốn biểu thị nghĩa là "màu đen" thì bắt buộc phải sử dụng phương pháp đánh dấu ký hiệu âm vị để phân biệt, bản chất chữ "q" không tham gia vào ngữ nghĩa của từ mà tham gia vào âm vị của từ để tạo ra nghĩa.
Các ví dụ điển hình có sư xuất hiện của âm tắc họng:
"miaq nưq - con mắt"
Nếu không có hậu tố "q" lúc này từ "mia" không còn nghĩa là mắt nữa mà có hiểu nghĩa là "muộn, muộn màng" trong từ "y mia" hoặc là "mia djé" - con dao nhọn; và từ "nư" không còn mang nghĩa là "một vật có hình hạt" mà có thể hiểu nghĩa là "trái tim" trong từ "nư ma", hoặc "nư đhie" - ngực.
Rồi rất nhiều cặp ví dụ khác:
y kuq - sợ hãi / y ku - cao ráo
y kaq - lạnh cóng / y ka - chập chạp
đhó khuq - mái vòm, mái che / đhó khu - khom lưng
loq - nhàn rỗi / lo - đổ, ngã
lhuq - đông đủ, trưởng thành / lhu - giật lấy, tước đoạt
suq - thua thiệt / su - chăm sóc, nuôi nấng
hiaq - quét dọn / hia - sai lầm
xưq - cạo, nạo / xư - sự sạch sẽ
dzưq - ngứa ngái / dzư - tranh luận
khưq - đến nơi / khư (lạ) - mùi ngai ngái
cuy luyq cio loq (từ láy âm) - tiếng kêu lốc cốc / kuy luy kio lo - thoai thoải (địa hình chỗ thoải chỗ dốc đan xen nhau)
Qua các ví dụ trên ta thấy trong tiếng Hà Nhì có những cặp từ có nghĩa và sắc thái âm vị khác nhau nhưng chỉ có thể biểu diễn hay ghi âm bằng một từ giống nhau khi đó để phân biệt âm vị và nghĩa của từ ta cần sử dụng các biện pháp đánh dấu âm vị và thêm hậu tố "q" là lựa chọn khả dĩ nhất để thể hiện sự tắc hơi ở cổ họng khi phát âm.
p/s: đây là nội dung hơi chuyên sâu về vấn đề kỹ thuật âm vực do đó bạn đọc có chỗ nào khó hiểu có thể để lại bình luận phía dưới bài viết hoặc nhắn tin trực tiếp qua bong bóng tin nhắn xuất hiện bên cạnh phải màn hình.
Lễ Cúng tổ tiên của người Hà Nhì ở Phong Thổ - À phùy hứ đa
| (Ảnh: Đồ và mâm cúng tổ tiên) |
1. Triết lý nhân sinh và tính bảo thủ dòng họ
2. Những thời khắc thiêng liêng thực hiện lễ cúng trong năm
Tết cổ truyền (khụ sự thò)Tết mùa mưa (zé qhừ dzà)Lễ cầu mùa (gà ma djí dzò)Lễ tổng kết mùa vụ (ka thó thó)
Lên nhà mới (jó sự đa)Đón con dâu vào nhà (qhừ ma sừ)Ăn cơm mới (hò sự dzà)
3. Quy trình hành lễ: Sự phân định vai trò giới nghiêm ngặt
Giai đoạn chuẩn bị (Vai trò của người phụ nữ)
Giai đoạn sửa soạn mâm cỗ (Vai trò của người đàn ông)
4. Ý thức trách nhiệm và Vận mệnh dòng họ, gia đình
Tết người Hà Nhì ở Huổi Luông - Hò sự thò hay còn gọi là khụ sự thò
![]() |
| (Ảnh: Trò chơi ngày tết của người Hà Nhì) |
Thời gian diễn ra Tết "Hò sự thò" của người Hà Nhì:
(*) người Hà Nhì gọi là “saq zè” dân gian thường gọi là cây chó đẻ - là một loại cây dại mọc rất phổ biến ở nơi đây, cây ra hoa vào khoảng cuối tháng 10 đến tháng 12 âm lịch, hoa có màu trắng, nhìn kỹ có màu tím và có mật ngọt vì thế ong mật rất thích loài hoa này
Ý nghĩa của ngày Tết "Hò sự thò" của người Hà Nhì:
Những hoạt động diễn ra vào ngày Tết:
Nguồn gốc Dân tộc Hà Nhì - Nhìn lại hành trình di cư lịch sử
![]() |
| (Ảnh: Dân tộc Hà Nhì có lịch sử lâu đời nguồn: internet) |
Việt Nam sử lược (VNSL) của Trần Trọng Kim có chép:
" Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả sáu chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Quy Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn... Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông quốc rồi lại đổi là Đại Lễ... "
![]() |
| Bộ sử thi 尼阿培聪坡坡 (Hani Ape Cong Po Po) ảnh: internet |
![]() |
| Địa mạo Đan hà ảnh: internet |
![]() |
| Hành trình di cư của người Hà Nhì từ Bắc vào Nam ảnh: internet |
![]() |
| Nghệ nhân Pờ Lóng Tơ miệt mài ghi chép để bổ sung hoàn thiện bộ sử thi ảnh: qdnd.vn |
Nà Ma đầu nguồnNơi Hà Nhì sinh sống là Nà Ma đầu nguồnNơi bản Hà Nhì ở là Sùy P’hùy À CòNơi bàn luận quyết định là Lé Lu À KhóNơi học hỏi lý lẽ là Sùy P’hùy À CòHa Sa rộng to nước tưới bằng mười hai nhánh mươngỞ giữa bản Hà Nhì bảy nghìn hộNa Tro Tro Ứ bình yên đóLà đất của tổ tiên người Hà Nhì ở đó.…Ở giữa đông vui bảy nghìn hộĐược bao bọc bởi hàng rào thép đanHàng rào thép bao kín xung quanh bảnMười hai con mương dẫn nước vào đồngChỗ cuối bản có một bụi treDành làm nơi hành quyết người phạm tộiGốc cây bưởi là chỗ để thịt dêGốc cây sổ để thịt trâu bò đấyThịt trộm mèo ở góc khuất trong nhàPhiến đá ngoài hiên dành làm nơi thịt lợnDù một ngày chẳng thịt được mười conNhưng mười ngày cũng được một con đấy.…Có hàng rào đan bằng dây thépBao bọc bảo vệ khắp xung quanhBản ở giữa cũng bao hàng rào thépBảy mươi đôi cọc cắm đều nhauChúa tể rừng xanh con voi to đuôi ngắnTổ tiên ta thuần phục được nó vềĐể giữ ranh giới Hà Nhì – HánTrấn thủ dòng Ha Sa nước lớnLà con rồng lặn dưới đáy sông sâu”(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
Đã từng chịu khổ không ai biếtMười lần chịu rét chẳng ai hayChịu mười trận nóng như thiêu đốtĐã từng nhịn đói suốt mười ngày...Ống xương con suýt làm cầu qua suốiThịt của con suýt làm phân bón rồiXương sườn con suýt bị phơi ngoài bãiBồng bềnh trôi theo nước dòng sông...Bà cô chạy tìm khắp bãi sôngMới thấy một hang đá để giấuCứ ban ngày thì nguỵ trang che kínChẳng bén mảng đến lấy một lầnNhưng đêm đến khi mọi người đã ngủLại xách cơm mang đến để cho ănChỉ sợ cha mẹ phát hiện raThì mọi chuyện sẽ không yên ổn được(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
Nếu một ngày trâu ngựa bước chân sangSẽ đánh cho chết ngay lập tứcCho phân mốc xương mục ngay tức khắcĐánh cho chân ngựa chổng lên trờiĐánh cho ruột ngựa phơi ra đất...Rõ người Hán lắm mưu sâu kế hiểmNhư rái cá lặn dưới đáy vũng sâuĐấu trí thì Hà Nhì thua HánCật nứa sắc nhưng vẫn cùn hơn daoSức Hà Nhì hơn nhưng mưu Hà Nhì kémChân vịt to cũng chẳng bằng diều hâu....Đạn người Hán rơi dầy tựa sao saMáu người chết chảy thành dòng đỏ thẫm(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
Cánh tay thì dắt theo con lớnCòn con nhỏ lót lá địu sau lưngNhư con ruồi bậu vào đít con trâuNhư loài muỗi, dĩn đuổi sau con cừu mẹ(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
ps: bài viết có liên quan đến nhiều cứ liệu lịch sử được lược dịch từ một số tài liệu của các nhà khoa học Trung Quốc do vậy một số thông tin chỉ mang tính chất suy đoán, giả thiết của tác giả có thể chưa chính xác, nhưng đây là những thông tin tham khảo bổ ích để giải thích cho sự xuất hiện của dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam, mong bạn đọc cũng nghiên cứu tổng hợp thông tin để đóng góp vào kho tri thức của dân tộc Hà Nhì và làm rõ cội nguồn của dân tộc Hà Nhì.
1. Trích và lược dịch từ bài viết: 哈尼族- 中央政府门户网站 www.gov.cn 2006年04月14日 10时17分 来源:国家民委网站 – Dân tộc Hà Nhì Cổng thông tin điện tử Chính phủ Trung ương www.gov.cn 14/04/2006 10:17 Nguồn: Trang web Ủy ban Nội chính Trung ương Trung Quốc.
2. Thư viện bách khoa mở Wikipedia tiếng Việt: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Chiếu
3. Tác giả Bùi Quốc Khánh, bài viết: SỬ THI – HÁ PÀ “PHUỲ CA NA CA” CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở MƯỜNG TÈ trên trang TaDRI (Viện nghiên cứu truyền thống và phát triển): http://tadri.org/














