TRANG CHỦ | GIỚI THIỆU | DÂN TỘC HÀ NHÌ | HỌC TIẾNG HÀ NHÌ | TỪ ĐIỂN VIỆT-HÀ NHÌ | SƠ ĐỒ TRANG

Nhù thò bhi dzà: Lễ tạ ơn "Đầu cơ nghiệp" đầy nhân văn của người Hà Nhì

Không có nhận xét nào
    Trong bức tranh văn hóa đa sắc màu của đại ngàn Tây Bắc, người Hà Nhì luôn khiến chúng ta trầm trồ bởi những phong tục tập quán đậm tính nhân văn, phản ánh mối quan hệ hài hòa, gắn bó mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Một trong những nét đẹp độc đáo, tinh tế đó chính là Lễ cho trâu ăn bánh, hay theo tiếng dân tộc Hà Nhì gọi là "Nhù thò bhi dzà".
    Đây không chỉ đơn thuần là một nghi lễ nông nghiệp, mà còn là lời cảm ơn chân thành, sâu sắc gửi tới "người bạn bốn chân" đã đồng hành cùng người dân qua một mùa vụ nhọc nhằn.
    Lễ Nhù thò bhi dzà thường được tổ chức vào khoảng giữa tháng 7 âm lịch hàng năm. Đây là thời điểm vạt ruộng bậc thang cuối cùng đã được cày cấy xong, sắc xanh của mạ non bắt đầu phủ kín các thửa ruộng bậc thang trên các sườn đồi.
Ảnh: trâu kéo cày - internet
    Ngay sau khi bản làng vừa rộn ràng tổ chức xong Tết mùa mưa (Zé qhừ dzà) – ngày lễ cầu mong mưa thuận gió hòa của cả cộng đồng, thì các gia đình sẽ lắng lại để chuẩn bị cho nghi lễ tri ân đặc biệt này.
    Đối với người Hà Nhì, con trâu không chỉ là vật nuôi là tài sản lớn mà còn là một thành viên ruột thịt trong nhà. Khi mùa vụ vất vả khép lại, việc tổ chức lễ cho trâu ăn bánh chính là lời "cảm ơn" thành kính mà gia chủ dành cho con trâu, tri ân những giọt mồ hôi mà nó đã đổ xuống trên đồng ruộng để mang lại sự ấm no cho gia đình.
    Khác với các ngày lễ lớn mang tính cộng đồng cao, "Nhù thò bhi dzà" không tổ chức đồng loạt cả bản mà mỗi gia đình sẽ lựa chọn một ngày đẹp để tổ chức riêng. Nét đẹp của nghi lễ này nằm ở sự tự nguyện và linh hoạt, mỗi nhà có thể chọn một ngày riêng, miễn là thời điểm đó gia đình đã hoàn thành xong xuôi mọi công việc cày cấy trên đồng ruộng. Sự riêng tư này tạo nên một không khí ấm cúng, giúp gia chủ có trọn vẹn thời gian để chăm sóc và bày tỏ lòng biết ơn với vật nuôi của mình.
    Nghi thức đơn sơ nhưng đong đầy sự tôn kính, dù thủ tục nghi lễ khá đơn giản, không rườm rà nhưng từng công đoạn, từng lễ vật đều chứa đựng những biểu tượng văn hóa linh thiêng.
    Nghi lễ được thực hiện vào buổi tối. Trước đó, các thành viên trong gia đình sẽ cùng nhau giã bánh giày và mổ một con gà để làm lễ. Các món đồ lễ được sắp xếp khéo léo trên lá chuối, bao gồm: một ít bánh giày dẻo thơm, một phần tim, gan và móng của con gà tế, một ít muối trắng tinh khiết và một chút bạc được cạo nhẹ từ chiếc vòng bạc đeo tay truyền thống của gia chủ. Tất cả những lễ vật tinh túy này được gói gọn gàng trong lá chuối và đặt trang trọng trên một chiếc mâm ngay tại hiên nhà.
    Sau khi lễ vật đã sẵn sàng, gia chủ sẽ dắt trâu về gần hiên nhà. Họ trân trọng lấy gói bánh vừa chuẩn bị để cho trâu ăn. Tiếp đó, gia chủ rót một chén rượu thơm nồng và dội nhẹ lên mõm trâu. Đây là hành thức chúc phúc, cầu mong cho trâu luôn khỏe mạnh, ra sức phục vụ cho gia đình. Nếu nhà có nhiều con trâu thì gia chủ sẽ gói lễ vật cho từng con và cho chúng ăn lễ vật đầy đủ.
    Khi phần lễ tạ ơn trâu kết thúc, phần "hội" của gia đình mới chính thức bắt đầu. Con gà làm lễ sẽ được đem đi nấu nướng thành những món ăn thường nhật thơm ngon. Gia chủ sẽ làm một mâm cơm ấm cúng, mời anh em, họ hàng thân thiết trong bản tới dự. Bên chén rượu cay nồng, mọi người cùng chúc nhau sức khỏe, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và thắt chặt thêm tình đoàn kết nghĩa tình dòng họ sau những ngày đồng áng cực nhọc.
    Lễ cho trâu ăn bánh Nhù thò bhi dzà của người Hà Nhì là một minh chứng sống động cho nét đẹp văn hóa ứng xử nhân văn với vật nuôi, làm giàu thêm kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam.

Biên soạn: Cao A Gó

Độc đáo Lễ khai mùa "Hiá qhia đọ" của người Hà Nhì

Không có nhận xét nào
Đối với người Hà Nhì, mỗi mùa vụ không chỉ đơn thuần là công việc đồng áng, mà là một hành trình tâm linh gắn kết mật thiết giữa con người và thế giới tự nhiên. Trong hệ thống nghi lễ nông nghiệp cổ truyền, Lễ khai mùa (Hiá qhia đọ) chính là khúc nhạc dạo đầu đầy thiêng liêng — nơi những hạt giống đầu tiên được gửi gắm vào lòng đất mẹ cùng lời nguyện cầu về một mùa vàng ấm no, bội thu.

1. Thời điểm gieo duyên cùng đất trời

Lễ "Hiá qhia đọ" không có một ngày cố định cho cả bản mà được tổ chức linh hoạt tùy theo từng gia đình lựa chọn ngày, nghi lễ được tổ chức trong vòng 01 ngày, vào khoảng tháng 2 đến tháng 3 âm lịch.
Sau khi nghi lễ chung của toàn bản là "Gà ma djí dzò" kết thúc, các gia đình sẽ tự xem và lựa chọn ngày đẹp cho riêng mình. Theo truyền thống, gia đình ông Lý trưởng sẽ bắt đầu làm lễ trước tiên, sau đó mới đến lần lượt các hộ gia đình khác trong bản sẽ nối tiếp thực hiện.

2. Cây "Lha qhá" và hành trang của lòng thành kính

Cay Lha qha
Ảnh: Cây lha qhá - lưới bùa linh thiêng bảo vệ mùa màng
Để chuẩn bị cho ngày lễ khai mùa, các vật dụng mang tính biểu tượng được chuẩn bị một cách chu đáo, bao gồm:
01 chiếc gùi nhỏ và 01 chiếc cuốc nhỏ: Công cụ lao động thu nhỏ, đại diện cho sự siêng năng và ước vọng khai phá.
Cây "Lha qhá": Gồm 01 cây thấp và 02 cây cao được làm từ lưới lạt đan mắt cáo và kẹp vào cành cây. Trong tâm thức của người Hà Nhì, cây "Lha qhá" không đơn thuần là một cành cây mà là một thứ "lưới bùa" trấn yểm linh thiêng, có nhiệm vụ xua đuổi tà ma, bảo vệ ngôi nhà và giữ gìn sự bình yên cho mùa màng sắp tới.

3. Hành trình nghi lễ: Sự kết hợp nhịp nhàng giữa "Âm" và "Dương"

Nét đặc sắc của Lễ khai mùa nằm ở sự phân vai đầy tinh tế giữa người phụ nữ và người đàn ông trong gia đình, thể hiện sự hòa hợp triết lý phồn thực.

Sứ mệnh thiêng liêng của người phụ nữ

Khi sương mù còn bảng lảng trên các sườn non, người phụ nữ — biểu tượng của sự sinh sôi, nảy nở — đã thức dậy từ sớm để chuẩn bị lễ vật:
Chuẩn bị vật phẩm: Đồ chín chõ xôi đỏ (nhuộm bằng lá cây chàm) rồi gói cẩn thận bằng lá chuối, luộc thêm một quả trứng gà trắng. Sau đó, họ xếp các loại hạt giống quý như lúa, ngô, đậu, đỗ... cùng cây "Lha qhá" thấp vào chiếc gùi nhỏ.
Nghi thức tại nương rẫy: Người mẹ thường dắt theo một đứa con nhỏ cùng ra mảnh nương gần nhà. Tại đây, họ chọn một gốc cây nhỏ, dùng cuốc xới sạch cỏ xung quanh rồi cắm cây "Lha qhá" thấp xuống đất ngay cạnh gốc cây. Kế đó, người phụ nữ sẽ thành kính gieo những hạt giống đầu tiên xung quanh gốc cây.
Thụ lộc đầu mùa: Sau khi gieo hạt, hai mẹ con sẽ bổ quả trứng luộc, ăn cùng xôi đỏ ngay tại nương, không quên để lại một phần nhỏ nơi gốc cây "Lha qhá" như lời tạ ơn đất đai.
Trấn giữ ngôi nhà: Trở về nhà, người phụ nữ lấy hai cây "Lha qhá" cao cắm trang trọng trước thềm hiên. Đến cuối ngày, hai cây bùa "Lha qhá" này mới được rút ra và cài cẩn thận vào vách sau nhà để bảo vệ gia trạch.
Nghi thức kiêng kị: Trong suốt ngày làm lý, người phụ nữ thực hiện nghi lễ tuyệt đối kiêng không bước chân vào nhà người khác để giữ trọn vẹn sự linh thiêng và may mắn cho gia đình mình.

Vai trò kết nối của người đàn ông

Trong khi người phụ nữ ra nương làm lý, người đàn ông ở nhà lại bận rộn với vai trò kết nối cộng đồng. Từ sáng sớm mờ, họ chuẩn bị một mâm cơm tươm tất, tết rượu, mổ gà để mời anh em, họ hàng nội ngoại đến chung vui. Bên mâm rượu nồng, mọi người cùng nâng chén, gửi tới gia chủ những lời chúc tụng tốt đẹp nhất về một vụ mùa mưa thuận gió hòa, lúa ngập kho, ngô đầy sàn.

4. Triết lý nhân sinh sâu sắc đằng sau "Hiá qhia đọ" của người Hà Nhì

Vượt lên trên ý nghĩa của một buổi lễ xuống đồng thông thường, Lễ khai mùa "Hiá qhia đọ" là minh chứng cho nét đẹp trong tư duy ứng xử của người Hà Nhì với tự nhiên. Đó là sự tôn kính sâu sắc dành cho Thần Đất (Thổ địa). Người Hà Nhì tin rằng, đất đai có linh hồn, và hành động xin phép trước khi chạm cuốc, gieo hạt chính là lời cầu thị chân thành để được Thần Đất chở che, ban phát cho sự màu mỡ, vạn vật sinh sôi.
Nếu có dịp ghé thăm các bản làng Hà Nhì vào những ngày xuân, tiếng cười nói bên mâm cơm khai mùa và sắc đỏ của xôi mới chắc chắn sẽ để lại trong lòng du khách những ấn tượng văn hóa không thể nào quên.

Biên soạn: Cao A Gó

Tết mùa mưa (zé qhừ dzà) - bản hòa ca cầu mùa linh thiêng của người Hà Nhì

Không có nhận xét nào
Đối với người Hà Nhì (ở Phong Thổ, Lai Châu), Tết Mùa Mưa ("Zé qhừ dzà" một số nhóm người Hà Nhì khác còn gọi với tên là "Khu già già") là một trong những lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất trong năm. Đây không chỉ là dịp để dân bản gửi gắm ước nguyện về một mùa mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là sợi dây tâm linh thắt chặt tình cảm cộng đồng, gắn bó với thiên nhiên và lòng tôn kính đối với tổ tiên. Nói về tên gọi "Zé qhừ dzà" nghĩa là ăn cùng với mưa, xuất phát từ thời điểm diễn ra ngày tết là mùa mưa với những cơn mưa xối xả ngày đêm, đất trời dung hòa.

1. Thời điểm khai hội:

Lễ hội thường diễn ra vào khoảng tháng 6 hoặc tháng 7 âm lịch. Đó là thời điểm bà con dân bản vừa hoàn thành xong xuôi việc cày cấy, đồng ruộng bắt đầu xanh màu mạ non. Ngày lành cũng có thể nói là ngày tâm linh được chọn để bắt đầu làm lý luôn là ngày Tỵ (ngày con rắn).

2. Hành trình lễ hội:

Tết Mùa Mưa (Zé qhừ dzà) là một chuỗi dài các nghi lễ độc đáo, hòa quyện giữa tính ngưỡng dân tộc và nhịp sống đại ngàn, diễn ra liên tục qua nhiều ngày:

Ngày thứ nhất (Ngày Tỵ) - Gắn kết cộng đồng và hướng về nguồn cội:

Vào buổi chiều, ông lý trưởng sẽ cử một nhóm thanh niên trai tráng, khỏe mạnh lên rừng đốn cây, tìm dây rừng (dây để làm dây đu có hai loại, một là "nùy núy á cha" dây này thường mọc ở ven các khe suối nhỏ ẩm uớt, dây mềm mại, vỏ màu đỏ hồng rất chắc chắn; hai là "djà tha ma á cha" loại dây này thường mọc ở trong rừng, thân dây cứng nhưng chắc chắn) để dựng cổng bản và cây đu. Sau khi dựng xong cổng bản và cây đu, một con lợn tế sẽ được mổ ngay tại cổng bản, thịt được chia đều cho từng hộ gia đình để làm lễ cúng tổ tiên. Ở nhà, những người phụ nữ Hà Nhì khéo léo đảm nhận phần hồn của mâm cúng: họ giã nhuyễn những nồi bánh giầy dẻo thơm, dâng lên bàn thờ cùng với chút vừng rang muối đậm đà.
Cay du Ha Nhi
 (Ảnh: Bọn trẻ nô nức chơi đu) 
Nói thêm về cây đu "á gư ká tu" là một cây đu lớn được dựng ngay cạnh cổng bản, cây đu được dựng từ 4 thân cây để nguyên ngọn cây, hai cây một đan chéo ngọn và nối vào nhau bằng một đoạn thân cây làm xà buộc dây đu, bàn đu tức chỗ để người đu đứng để đu được đẽo từ một đoạn gốc cây, có một nét văn hóa đặc trưng xuất hiện trên bàn đu này mà theo khoa học văn hóa gọi đó là văn hóa phồn thực, cụ thể trên một đầu bàn đu được các anh thanh niên khéo léo đẽo thành hình đầu “của quý” rất hoành tráng khi dựng cây đu sẽ hiện lên một hình tượng sừng sững đầu "của quý" hiên ngang hướng ra phía ngoài cổng bản như một linh vật bảo hộ vậy. Đó là một nét văn hóa được lưu truyền từ ngàn xưa và bản thân tác giả vẫn chưa lý giải được vì sao ông cha ta lại lấy hình tượng này, có lẽ đó là biểu tượng của sự phát triển, biểu tượng gieo mầm sự sống và sự sinh sôi của một giống nòi. Vào những ngày nghỉ lễ đặc biệt là buổi tối ở cổng bản, cây đu là không gian vui chơi của thanh niên trai gái tập trung thay phiên nhau nô nức chơi đu, có những anh thanh niên khỏe mạnh đu cao đến mức với được ngọn cây đu gọi là "chsé pạ trư" - hái lá lúa, đó là những màn thể hiện lòng gan dạ, bản lĩnh của thanh niên tuổi mới lớn.

Ngày thứ hai (Ngày Ngọ) - Tình thân gắn kết:

Đây là ngày nghỉ lễ mọi người dân tạm gác lại âu lo, nghỉ ngơi tại nhà, mở tiệc mời anh em hoặc xúng xính váy áo đi thăm hỏi, chúc tụng anh em, họ hàng trong bản.

Ngày thứ ba (Ngày Mùi) - "No khè đu":

Theo tiếng Hà Nhì, ngày này tạm dịch là ngày các bà, các mẹ đi thăm ruộng nương, các anh đàn ông đi rừng hoặc săn bắt chim chóc, hòa mình vào thiên nhiên sau vài ngày dài làm lý ở nhà, đi thăm ruộng nương, đi rừng để giải tỏa bí bách trong thực hiện nghi lễ, mà có lẽ truyền thống tổ tiên xưa vốn nghèo khó bám ruộng đồng, kiếm thức ăn ở rừng từng ngày qua bữa nên cũng đã sắp xếp một ngày giữa những ngày lý kiêng kỵ dành ra một ngày để bà con đi thăm ruộng đồng khỏi bị tắt mương máng, xúc vật phá hoại, kiếm thêm thức ăn ở rừng để duy trì cuộc sống hàng ngày .

Ngày thứ tư (Ngày Thân) - "À phùy phùy hiá lho" gắn kết tâm linh:

Là ngày kiêng kỵ không làm việc đồng áng, chỉ ở nhà nghỉ ngơi hoặc tham thú anh em trong bản. Người Hà Nhì quan niệm đây là ngày ông bà tổ tiên về "quy tiên", tạm rời cõi thực để về với thế giới tâm linh, không ở bên cạnh trông nom bảo vệ con cháu nên con cháu đi làm vào ngày này là rất nguy hiểm dễ gặp rủi ro tai nạn không mong muốn. Vào buổi chiều tối nhà nhà giã bánh giầy, một số gia đình dòng họ có truyền thống làm lý "ha chi chi" và cúng tổ tiên, các gia đình còn lại trong bản đều mổ một con gà, vịt gì đó (gọi là lý "sị ní đu" - cúng tế vật hiến sinh thờ tổ tiên) và làm thủ tục "đhè chuy" dâng cúng tổ tiên với bánh giầy.

3. Những ngày kiêng kỵ và nghi lễ "phạt" cúng bản

Ngày thứ năm (Ngày Ất - Ngày con Gà):

Ngày này bà con làm lý "ha lho" (ngày kiêng con gà). Mọi người chỉ ở nhà nghỉ ngơi, ăn uống. Nếu ai tự ý đi làm nương sẽ bị quy vào tội "gà ma bẹ" và bị phạt lý phải đền một con gà để trưởng lý cúng tạ tội với "mí xó, thù đhí" - Thổ địa của bản.
Sau những ngày hội chính, mạch nguồn văn hóa của Tết Mùa Mưa vẫn tiếp diễn với các nghi thức tâm linh sâu sắc.

Đến ngày Tý (ngày con Chuột) - "Hu lho" kiêng con chuột:

Bà con kiêng ngày chuột, tuyệt đối không ra đồng. Người vi phạm sẽ bị quy vào tội "gà ma bẹ" và chịu phạt lý một con gà để lý trưởng làm lễ cúng bản.
Cách một tuần trăng sau, vào ngày Ất (con gà), dân bản tiếp tục làm lý "ha lho". Cho đến ngày Hợi (con lợn) bà con gọi ngày này là "jạ jạ", đây là ngày kiêng kỵ khắt khe nhất trong hệ thống tín ngưỡng của lễ hội. Dân bản gần như không được làm bất cứ việc gì ngoại trừ việc ăn uống và sinh hoạt nội bộ trong nhà. Khung phạt cho người vi phạm ngày này rất nặng: phải bắt nộp ngay một con lợn con để làm lý cúng bản ngay trong ngày hôm đó.

Đến ngày Sửu (con trâu) - Nghi lễ "A bhó nhẹ" (bắt châu chấu, sâu bọ):

Diễn ra ngay sau tuần kiêng ngày Hợi. Vào buổi trưa hoặc chiều, gia chủ sẽ ra nơi có thể nhìn thấy ruộng nương nhà mình và cất tiếng gọi linh thiêng: "Ơ a bhó, hò thò dzà lá ò, xò lha ngư chsé thà tự, xò no ngá nu jó mà nhiẹ" (Dịch nghĩa đại khái là: "Con châu chấu (sâu bọ nói chung) ơi, ra đây ăn bánh giầy, ba tháng mi đừng hại lúa nhà ta, ba ngày ta sẽ không bắt mi"). ngoài ra có một số gia đình có truyền thống thay vì hô gọi con châu chấu thì bắt con châu chấu cuốn vào lá cài lên 2 cành cây nhỏ mỗi cành cài 9 con châu chấu và cắm 2 cành cây vào một chỗ ở bên đường đầu bản. Đến chiều tối, khi bà con giã bánh giầy xong trước khi mang vào nhà, họ sẽ bốc một ít bánh ném ra vườn. Hành động này như một lời giao ước, giữ đúng lời hứa cho châu chấu và sâu bọ ăn bánh để chúng không phá hoại mùa màng. Tối hôm đó, các gia đình sẽ không làm lý thờ cúng nữa.
Sau khi kết thúc ngày hội ông lý trưởng sẽ ra cây đu mang theo hai lưỡi liềm hai bên tay liền chặt đứt hai bó dây đu để bàn đu rơi xuống đất khép lại một ngày hội của năm, theo quan niệm nếu bàn đu sau khi rơi xuống đất mà nằm úp xuống là điều lành, báo hiệu một năm mưa thuận gió hòa, vụ mùa no ấm cho bản làng.

Lời Kết

Tết Mùa Mưa "Zé qhừ dzà" của người Hà Nhì không chỉ là một lễ hội, mà là một bức tranh tổng hòa giữa lòng biết ơn tổ tiên, sự tôn trọng thiên nhiên và khát vọng sống hòa hợp với vạn vật. Những điều kiêng kỵ, những câu thần chú mộc mạc gửi tới con châu chấu, sâu bọ chính là minh chứng cho nét ứng xử đầy nhân văn và tinh thần gắn bó mật thiết với thiên nhiên của đồng bào dân tộc Hà Nhì.



Biên soạn: Cao A Gó

Gà ma djí dzò - Lễ cúng thần đất, thần rừng, thần nước của người Hà Nhì ở Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

Không có nhận xét nào

Gà Ma Djí Dzò: Khúc hoan ca tạ ơn đất trời của người Hà Nhì

Trong bức tranh văn hóa đa sắc màu của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Hà Nhì nổi bật với những nghi lễ tín ngưỡng nguyên sơ, linh thiêng và đậm tính nhân văn. Trong số đó là Lễ "Gà ma djí dzò" (một số nơi như Y Tý, Lào Cai gọi là "Gạ ma thú").
Đây không chỉ là một lễ hội thông thường, mà là lời tạ ơn sâu sắc gửi đến Đất, Nước, Rừng – những đấng siêu nhiên che chở cho bản làng, đồng thời là lời cầu nguyện cho một mùa vụ mới mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi.

Thời điểm khai hội và chu kỳ tuần trăng linh thiêng

Lễ hội được tổ chức sau Tết cổ truyền (Hò sự thò), vào khoảng tháng 2 Âm lịch, bắt đầu vào ngày Tỵ đầu tiên của tháng.
Theo truyền thống xa xưa, "Gà ma djí dzò" gồm 3 nội dung chính: “Ló khọ sò”, “Gà ma dzò” và “Djí dzò”. Trước đây, hai phần “Gà ma dzò” và “Djí dzò” thường được tổ chức riêng biệt cách nhau cả một tuần trăng. Người Hà Nhì tính chu kỳ các ngày trong một tuần trăng theo thứ tự tiệm tiến của hệ lịch âm tính theo con giáp:

Thứ tự các ngày trong 01 tuần trăng được xác định như sau: Tỵ->Ngọ->Mùi->Thân->Ất->Tuất->Hợi->Tý->Sửu->Dần->Mão->Thìn->(Tỵ)

Hành trình diễn xướng các nghi lễ:

1. “Ló Khọ Sò” – nghi thức cúng thần nước (chiều ngày Tỵ)

Nước là mạch nguồn của sự sống và nông nghiệp. Vì vậy, ngày Tỵ - ngày mở đầu làm lý – được dành trọn vẹn để tôn vinh Thần nước cụ thể là thần cai quản nguồn nước.

Le cung lo kho so
  (ảnh: ông Lý trưởng và lý phó dự bữa cơm cúng "ló khọ sò" bên cạnh máng nước) 

Nghi thức được thực hiện tại đầu nguồn: 

Vào buổi chiều, ông "Mí kù" (Lý trưởng) và ông "Mí chso" (Lý phó) sẽ đại diện bản làng ra tận đầu nguồn khe nước bà con thường lấy nước sinh hoạt. Tại đây, hai ông tiến hành dựng một máng nước mới, mổ gà làm lý và nấu ăn ngay tại chỗ để cầu mong nguồn nước luôn dồi dào, nước chảy xuôi dòng.

Rước nước thiêng và chia lộc: 

Sau khi nghi thức cúng “Ló khọ sò” hoàn thành, những người phụ nữ trong các gia đình chuẩn bị làm lý “À phùy hứ” (cúng tổ tiên) sẽ đến hứng dòng nước tinh khiết từ máng nước ông lý trưởng dựng lên mang về làm nước cúng (à phùy hứ chụ). Cùng lúc đó, cánh đàn ông tập trung tại cổng bản để mổ một con lợn tế. Thịt lợn sau đó được chia thành từng suất đều nhau cho các hộ gia đình mang về làm lễ tại nhà. Chiều tối hôm đó, tiếng giã bánh giầy rộn ràng khắp bản để chuẩn bị lễ vật dâng lên tổ tiên. Sắc nước tinh khôi hòa cùng hương vị bánh giầy mới thơm ngát trong đêm ngày Tỵ chính là sự kết nối thiêng liêng giữa con người, tổ tiên và thế giới tự nhiên.
ba con chia xuat thit lam ly
 (ảnh: bà con mổ lợn chia xuất để cúng tổ tiên) 

2. Gà Ma Dzò – bữa cơm cộng đồng thắt chặt tình thân (chiều ngày Ngọ)

Diễn ra vào chiều ngày hôm sau (ngày Ngọ), đây thực chất là một bữa tiệc đại đoàn kết được tổ chức ngay tại sân nhà ông Lý trưởng.
bua com nha ong ly truong
 (ảnh: Bữa cơm tại nhà ông lý trưởng) 

Góp cỗ chung vui: 

Bữa cơm hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện và tùy tâm. Mỗi gia đình khi đến dự sẽ tự mang theo ghế ngồi, bát đũa, chai rượu, gói thức ăn và bánh giầy. Tất cả thức ăn được bày biện thành những mâm cỗ lớn giữa sân, còn bánh giầy được gom lại một chỗ để rán giòn.

Cây lộc "Su ní" và món nướng "Dzá piư": 

Tại mâm của ông Lý trưởng, một cây “su ní” (cây hoa lấy lộc) được dựng lên, ai đến dự cũng sẽ hái một cành hoa nhỏ cài lên mũ để cầu may. Giữa bữa tiệc, ông Lý trưởng sẽ mời mọi người dùng món “dzá piư” – món thịt nướng làm lý từ một con chim hoặc thú rừng nhỏ được xẻ miếng với ý nghĩa là khai hội. Người Hà Nhì quan niệm: nếu năm trước ăn món này mà gia đình ăn nên làm ra thì năm nay tiếp tục dùng, nếu không thì có thể từ chối.

Mâm cơm nội thất: 

Cuối buổi, một mâm cơm đặc biệt được dọn sẵn trong nhà ông Lý trưởng, ông lý trưởng mời mọi người vào nhà dùng bữa. Theo thông lệ những ai cảm thấy việc vào nhà dùng bữa trong những năm trước mang lại vận may, kinh tế khá giả thì sẽ tiếp tục bước vào nhà dùng bữa tùy tâm.

3. Djí Dzò – ngày hội may mắn và tái thiết bản làng (ngày Thân)

Sau ngày Ngọ, bản làng trải qua ngày Mùi tĩnh lặng để bước vào ngày Thân – ngày cao trào của chuỗi lễ hội với các hoạt động kéo dài từ sáng sớm đến đêm muộn.

Buổi sáng – Sắc màu xôi nhuộm và Lễ "Mí xó lhó":

Từ tinh mơ, phụ nữ Hà Nhì đồ xôi đỏ, xôi vàng (đã ngâm từ tối trước). Khi xôi chín, họ luộc thêm trứng gà để gia chủ làm thủ tục “đhè chuy” – dâng lễ vật chỉ gồm trứng và xôi vàng lên tổ tiên. Sau đó, họ mang rổ trứng ra nhà ông Lý trưởng hoặc Lý phó, nơi có sẵn những nồi nước màu đun bằng thân cây rực rỡ để nhuộm đỏ vỏ trứng.
Trong khi đó, đàn ông tập trung tại cổng bản tham gia lễ “Mí xó lhó” (Cúng Thần Đất). Họ cùng nhau mổ lợn, nấu nướng và thụ lộc ngay tại cổng bản.

Buổi trưa chiều – Nghi thức "Hò luy dze" (Ném cơm may mắn):

Bản làng tụ họp tại nhà Lý trưởng, đồ dùng mang theo vẫn như bữa “Gà ma dzò”. Tuy nhiên, lần này thay vì mang theo bánh giầy, các gia đình mang theo xôi sắc màu và hai quả trứng luộc đã nhuộm màu để khai tiệc.
Khi bữa ăn sắp tàn, nghi thức náo nhiệt nhất bắt đầu: lần lượt theo vòng quanh các mâm cơm ông Lý trưởng (đi theo mạn phải) hết đến ông Lý phó (đi theo mạn trái) xách rổ chứa các nắm xôi của dân bản góp lại, đi vòng quanh các mâm. Đến vị trí của ai, các ông sẽ ném thật mạnh nắm cơm vào chiếc mũ hoặc túi đeo mà người đó đang hứng sẵn trong lòng. Cả mâm sẽ đồng thanh hô vang: “Luy!” (nghĩa là may mắn!). Nếu bắt trượt, nắm cơm bật ra ngoài, các ông sẽ ném lại đến lần thứ ba; nếu vẫn trượt, nắm cơm sẽ được đặt trân trọng lên mâm.
Sau cuộc ném cơm, những người đã tham gia dùng bữa trong nhà ở lễ “Gà ma dzò” sẽ tiếp tục vào nhà dùng bữa. Kết thúc nghi thức ném cơm may mắn, một nhóm trai tráng được cử ra để dựng lại và trang hoàng cổng bản thật uy nghiêm.
Trang tri cong ban
 (ảnh: Trang trí Cổng bản) 

Buổi tối – Nghi thức trấn giữ cổng bản:

Khi chiều buông xuống, tại chiếc cổng bản mới dựng, ông Lý trưởng sẽ mổ một con gà trống trắng, lột khéo léo lấy phần da kèm đầu và chân để treo lên trước cổng bản nhằm xua đuổi tà ma. Tiếp đó, một chú chó được mổ để nấu bữa tối cộng đồng ngay tại cổng bản. Toàn thể dân bản cùng kéo ra đây, ăn uống vui vẻ dưới sự chứng kiến của các vị thần, thổ địa.

4. Ngày khép lễ (ngày Ất)

Vào ngày Ất (ngày con gà), không khí lễ hội lắng dịu. Người dân ở nhà làm lý nội bộ. Buổi sáng, ông Lý trưởng sẽ sang thăm nhà ông Lý phó – nghi thức này mang tính biểu tượng gọi là "Mí kù đhe qha ci só – Lý trưởng đi chơi giải hội", chính thức tuyên bố kết thúc chuỗi ngày làm lý thiêng liêng của bản làng.

Lời kết

Lễ "Gà ma djí dzò" vượt lên trên ý nghĩa của một hoạt động tín ngưỡng thông thường. Nó là bảo tàng sống lưu giữ vũ trụ quan và nhân sinh quan sâu sắc của người Hà Nhì. Qua việc thờ phụng Thần Đất, Thần Rừng, Thần Nước, người Hà Nhì khẳng định sợi dây gắn kết vĩnh cửu giữa con người và tự nhiên, đồng thời tôn vinh giá trị của sự sẻ chia, tính gắn kết cộng đồng bền chặt trước dòng chảy của thời gian.

Biên soạn: Cao A Gó

Âm tắc họng - hiện tượng đặc biệt trong ngữ âm tiếng Hà Nhì

Không có nhận xét nào


Âm tắc họng là một dạng ngữ âm có khẩu hình đặc trưng là âm phát ra được ép ở cuống họng khi âm được phát ra có biểu hiện bị nén lại làm cho âm vị trở nên sắc hơn, nhấn mạnh hơn bình thường. Trong bộ chữ Hà Nhì để phân biệt âm tắc họng với các dạng âm vị bình thường khác ta dùng hậu tố "q" tức là thêm ký tự chữ cái "q" vào sau các từ biểu thị âm tắc họng.

Có một điều đặc biệt là âm tắc họng chỉ xuất hiện đối với các từ có thanh điệu ngang (không dấu) điều này xuất phát từ đặc điểm của âm vị không có thanh điệu là âm vị trung tính có thể biến đổi nhiều dạng âm khác nhau mà vẫn giữ trường độ âm thanh, trong khi các âm vị chứa thanh điệu như dấu sắc ( ՛ ), dấu huyền ( ` ), dấu nặng ( . ) bản thâm âm vị đã phần nào chứa đựng hiện tượng tắc họng.

Để làm rõ đặc điểm của âm tắc họng trong tiếng Hà Nhì ta xét các cặp ví dụ có xuất hiện của âm tắc họng như sau:

y na - bản chất của sự vật, hoặc chỉ một thuộc tính đặc trưng của sự vật (vd: Djò đhúy đhúy ư lò à ju y na - Lười là bản tính của của nó)

y naq - màu đen (vd: Phí khò hi mó y naq - Chiếc áo này màu đen)

So sánh sự giống và khác nhau khi có hoặc không có "q" ở đây từ "na" về bản chất cách viết hoàn toàn giống nhau đều là sự kết hợp của phụ âm "n" và nguyên âm "a", nếu giả sử ta không sử dụng phương pháp đánh dấu thêm "q" vào phía cuối từ thì lúc này từ "y naq" (màu đen) thành "y na" nghĩa là "bản chất của sự vật, hoặc chỉ một thuộc tính đặc trưng của sự vật" vì vậy muốn biểu thị nghĩa là "màu đen" thì bắt buộc phải sử dụng phương pháp đánh dấu ký hiệu âm vị để phân biệt, bản chất chữ "q" không tham gia vào ngữ nghĩa của từ mà tham gia vào âm vị của từ để tạo ra nghĩa.

Các ví dụ điển hình có sư xuất hiện của âm tắc họng:
    "miaq nưq - con mắt"
Nếu không có hậu tố "q" lúc này từ "mia" không còn nghĩa là mắt nữa mà có hiểu nghĩa là "muộn, muộn màng" trong từ "y mia" hoặc là "mia djé" - con dao nhọn; và từ "nư" không còn mang nghĩa là "một vật có hình hạt" mà có thể hiểu nghĩa là "trái tim" trong từ "nư ma", hoặc "nư đhie" - ngực.

Rồi rất nhiều cặp ví dụ khác: 

y kuq - sợ hãi / y ku - cao ráo
y kaq - lạnh cóng / y ka - chập chạp
đhó khuq - mái vòm, mái che / đhó khu - khom lưng
loq - nhàn rỗi / lo - đổ, ngã
lhuq - đông đủ, trưởng thành / lhu - giật lấy, tước đoạt
suq - thua thiệt / su - chăm sóc, nuôi nấng
hiaq - quét dọn / hia - sai lầm
xưq - cạo, nạo / xư - sự sạch sẽ
dzưq - ngứa ngái / dzư - tranh luận
khưq - đến nơi / khư (lạ) - mùi ngai ngái
cuy luyq cio loq (từ láy âm) - tiếng kêu lốc cốc / kuy luy kio lo - thoai thoải (địa hình chỗ thoải chỗ dốc đan xen nhau)

Qua các ví dụ trên ta thấy trong tiếng Hà Nhì có những cặp từ có nghĩa và sắc thái âm vị khác nhau nhưng chỉ có thể biểu diễn hay ghi âm bằng một từ giống nhau khi đó để phân biệt âm vị và nghĩa của từ ta cần sử dụng các biện pháp đánh dấu âm vị và thêm hậu tố "q" là lựa chọn khả dĩ nhất để thể hiện sự tắc hơi ở cổ họng khi phát âm.

p/s: đây là nội dung hơi chuyên sâu về vấn đề kỹ thuật âm vực do đó bạn đọc có chỗ nào khó hiểu có thể để lại bình luận phía dưới bài viết hoặc nhắn tin trực tiếp qua bong bóng tin nhắn xuất hiện bên cạnh phải màn hình.



Lễ Cúng tổ tiên của người Hà Nhì ở Phong Thổ - À phùy hứ đa

Không có nhận xét nào
Trong hệ thống tín ngưỡng thờ cúng của người Hà Nhì tại xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Lễ cúng tổ tiên (À phùy hứ đa) chiếm một vị trí tối thượng. Đây không đơn thuần là một nghi thức tín ngưỡng bề nổi, mà là mạch ngầm tâm linh gắn liền với vận mệnh của mỗi gia đình, đồng thời là chất keo bền chặt gắn kết tinh thần cố kết bản làng của cộng đồng nơi đây.
Do mam cung
(Ảnh: Đồ và mâm cúng tổ tiên)

1. Triết lý nhân sinh và tính bảo thủ dòng họ

Đối với người Hà Nhì, cúng tổ tiên là bổn phận thiêng liêng của con cháu nhằm tỏ lòng tôn kính, biết ơn các thế hệ cha ông – những người đã khai sinh ra dòng tộc. Trong tâm thức của họ, Tổ tiên không biến mất mà luôn hiện hữu như một sợi dây tâm linh vô hình, che chở và định đoạt phúc họa của gia đình. Chính vì vậy, vào các dịp đại lễ, mâm cúng phải được dâng lên tổ tiên trước nhất, sau đó con cháu mới được phép thụ lộc.
Một đặc điểm nhân học văn hóa đặc sắc trong nghi lễ này là tính bảo thủ dòng họ. Quy trình và thủ tục hành lễ do các thế hệ đi trước truyền lại được các gia đình tuân thủ một cách tuyệt đối. Họ xem đây là "nghi thức dòng tộc", nghiêm cấm việc học theo hoặc sao chép nghi thức của dòng họ khác.

2. Những thời khắc thiêng liêng thực hiện lễ cúng trong năm

Nghi lễ À phùy hứ đa được người Hà Nhì thực hiện nghiêm cẩn vào hai nhóm sự kiện chính:
Các dịp lễ Tết định kỳ trong năm:
Tết cổ truyền (khụ sự thò)
Tết mùa mưa (zé qhừ dzà)
Lễ cầu mùa (gà ma djí dzò)
Lễ tổng kết mùa vụ (ka thó thó)
Các sự kiện trọng đại của gia đình:
Lên nhà mới (jó sự đa)
Đón con dâu vào nhà (qhừ ma sừ)
Ăn cơm mới (hò sự dzà)

3. Quy trình hành lễ: Sự phân định vai trò giới nghiêm ngặt

Nghi lễ À phùy hứ đa là một tổng thể các hành động được phân chia rạch ròi giữa người phụ nữ (nội trợ, chuẩn bị) và người đàn ông (chủ lễ) trong gia đình.

Giai đoạn chuẩn bị (Vai trò của người phụ nữ)

Trước ngày lễ mấy ngày, người phụ nữ sẽ chọn một ngày đẹp – tuyệt đối không trùng với ngày sinh của các thành viên trong nhà (tính theo ngày con giáp trong âm lịch) tiến hành làm men rượu cúng (à phùy hứ djí): Nguyên liệu gồm gạo trộn với trấu thóc, gói chặt vào lá chuối, đem hấp luộc qua rồi cất kỹ trên kệ tủ bếp.
Đến ngày cúng người phụ nữ lấy nước cúng (à phùy hứ chụ), nước cúng được hứng từ vòi nước hoặc ra mó nước tự nhiên của bản để hứng lấy vài chai nước tinh khiết nhất, đặt sẵn dưới chân bàn thờ.

Giai đoạn sửa soạn mâm cỗ (Vai trò của người đàn ông)

Người đàn ông chịu trách nhiệm chuẩn bị phần lễ mặn. Món cúng bắt buộc phải có thịt lợn (mổ tại cổng bản) hoặc thịt gà, tùy theo quy định riêng của từng dịp lễ hoặc từng dòng họ.
Chế biến: Món thịt nhất thiết phải có vài miếng gan. Người đàn ông đặt chảo sạch lên bếp, đổ nước cúng (à phùy hứ chụ) vào, băm vài lát gừng đun đến khi sủi bọt. Lúc này, họ múc riêng một bát nước gừng nguyên chất gọi là "xà trự lạ pạ" để riêng. Tiếp đó mới cho thịt vào nấu chín cùng muối và mì chính. Nguyên tắc tối kỵ: Món thịt cúng tuyệt đối không được nêm nếm gia vị thử trong quá trình nấu.
Tiến hành hành lễ và Thụ lộc
Khi lễ vật đã sẵn sàng, người đàn ông mặc trang phục truyền thống chỉnh tề, bắt đầu thực hiện các bước tế lễ:
Hòa men rượu cúng (à phùy hứ djí) với nước cúng, chắt ra bát.
Dùng nước cúng lau rửa sạch sẽ toàn bộ đồ thờ (mâm, bát đũa, âu cơm).
Đặt mâm ngay ngắn trước bàn thờ, múc thịt cúng đặt lên. Rót nước gừng (xà trự lạ pạ) và rót nước men rượu (chắt ra ngắt quãng đúng 3 lần) ra bát cúng lên mâm.
Người phụ nữ xới cơm cúng (có thể là cơm, bánh giầy, hoặc bánh trôi kèm vừng giã tùy dịp) vào âu rồi đặt lên mâm. Phần nước men rượu còn lại sẽ giao cho người phụ nữ giữ.
Người đàn ông múc mỗi thứ lễ vật đã đặt lên mâm cúng một ít vào một chiếc bát riêng, sau đó dâng mâm cúng chính lên bệ thờ (hoặc đẩy gần sát vào chân bàn thờ tùy dòng họ).
Nghi thức xua đuổi tà ma: Ngay sau đó, người đàn ông mang chiếc bát đựng hỗn hợp thức ăn nhỏ ra cửa sau nhà dừng lại trước khung cửa đổ ra ngoài sân sau với ý nghĩa đãi tà ma, biệt phái các thế lực xấu để không quấy nhiễu gia đình. Ngoại lệ: Vào các dịp lên nhà mới, đón dâu mới, hoặc ăn cơm mới, người Hà Nhì quan niệm đây là dịp đón lộc vào nhà nên không thực hiện nghi thức này.
Sau đó quay vào nhà, người đàn ông hạ mâm cúng xuống rồi gia chủ thụ lộc trước, lúc này người phụ nữ sẽ nhấp một hơi nhỏ nước men cúng rồi đổ phần nước men rượu còn lại lên chân kiềng bếp lửa, sau đó cả nhà thụ lộc.
Tập tục ăn cơm cúng đối với con gái: Một nét đặc thù trong văn hóa gia đình Hà Nhì là tất cả thành viên đều tập trung ăn cơm cúng, trừ con gái trong gia đình. Người con gái sẽ múc thức ăn riêng từ trong chảo nấu lúc trước để ăn. Người Hà Nhì quan niệm mỗi người chỉ thờ một tổ tiên; con gái khi lớn lên sẽ đi lấy chồng, ăn cơm cúng và thờ phụng tổ tiên nhà chồng, nên không tham gia vào mâm cúng chính của nhà đẻ.

4. Ý thức trách nhiệm và Vận mệnh dòng họ, gia đình

Vì mang tính quyết định đến sự hưng thịnh của gia tộc, nghi thức cúng tổ tiên đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối trong từng bước thực hiện. Nếu phát hiện có sai sót, gia chủ phải ngay chủ động thực hiện nghi thức tự hứa (xò tự tự sa) – tức là tâm niệm và hứa với bề trên sẽ tổ chức cúng tạ lễ lại trong thời gian sớm nhất.
Trong thế giới quan của người Hà Nhì, việc cúng sai nghi thức là một đại nạn, có thể khiến tai họa giáng xuống chủ nhà, khiến gia đình đau ốm, tai nạn hoặc mùa màng thất bát. Do đó, mỗi người đàn ông Hà Nhì khi tiếp quản bàn thờ tổ tiên luôn ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình. Việc gìn giữ vẹn nguyên nghi lễ không bị thất truyền chính là chìa khóa để bảo vệ vận mệnh, sự bình an và hưng thịnh của gia đình, dòng họ từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Biên soạn: Cao A Gó

Tết người Hà Nhì ở Huổi Luông - Hò sự thò hay còn gọi là khụ sự thò

Không có nhận xét nào
Tết cổ truyền (Hò sự thò) của người Hà Nhì ở Huổi Luông (Phong Thổ mới) cũng giống như Tết của các dân tộc anh em khác trên cả nước, là dịp lễ lớn trong năm trong thời khắc giao thời giữa năm cũ và năm mới, nhà nhà sum họp để tổng kết một năm công tác, làm ăn, kinh tế và đón một năm mới với những kỳ vọng về những điều tốt đẹp, may mắn sẽ đến.
Trò chơi ngày Tết của người hà Nhì
(Ảnh: Trò chơi ngày tết của người Hà Nhì)  

Thời gian diễn ra Tết "Hò sự thò" của người Hà Nhì

Vào cuối tháng 12 và đầu tháng 1 năm sau (âm lịch) vào những ngày từ ngày 27 tháng 12 cuối năm đến mùng 2 tháng 1 năm mới. Trên thực tế thời gian diễn ra ngày tết vẫn chưa có sự thống nhất chặt chẽ thậm chí ngay cả các địa bàn khác nhau của người Hà Nhì ở Huổi Luông vẫn có nơi tết trước, có chỗ tết sau. Trước đây,  người Hà Nhì ấn định thời điểm đón tết là lúc cây bụi (*) đâm hoa đua nở trắng xóa rừng núi, lúc đó rơi vào khoảng giữa tháng 11 âm lịch cụ thể bắt đầu mổ lợn làm lý đón năm mới vào ngày Tuất (con chó) trong tuần 12 con Giáp (âm lịch chỉ có hơn 2 tuần trăng trong một tháng). Hiện nay, nhờ có chính quyền chủ trương đón tết cùng người Việt nên những ngày tết của người Hà Nhì diễn ra cùng thời điểm với Tết của người Việt, nhưng vẫn có phần tết trước một vài ngày, thông thường ở đây bắt đầu tết từ ngày 27 tháng 12, người Hà Nhì ấn định ngày Tuất để bắt đầu đón tết do đó tuần trăng gần cuối tháng 12 nhất cứ đến ngày Tuất là bà con sắm sửa đón tết.
(*) người Hà Nhì gọi là “saq zè” dân gian thường gọi là cây chó đẻ - là một loại cây dại  mọc rất phổ biến ở nơi đây, cây ra hoa vào khoảng cuối tháng 10 đến tháng 12 âm lịch, hoa có màu trắng, nhìn kỹ có màu tím và có mật ngọt vì thế ong mật rất thích loài hoa này
Thông thường đối với các ngày lễ, ngày lý của người Hà Nhì bắt đầu từ ngày Tỵ, tuy nhiên đối với Tết thì lại bắt đầu từ ngày Tuất. Một tuần trăng âm lịch có 12 con giáp theo đó ngày Ngọ là ngày đầu tuần và ngày Tỵ là ngày cuối tuần, trong đó ngày Tuất là ngày gần giữa tuần trước ngày giữa tuần là ngày Hợi, còn lý do ông cha ta lựa chọn ngày Tuất là ngày bắt đầu làm lý đón tết có lẽ vẫn cần có nghiên cứu chuyên sâu hơn để hiểu rõ điều này. 

Ý nghĩa của ngày Tết "Hò sự thò" của người Hà Nhì

Tết âm lịch được xem là ngày nghỉ lễ lớn nhất trong năm nhằm tổng kết lại những gì đã làm được của một năm đã qua và cùng ăn mừng những thành quả đã đạt được dù cho có kết quả kinh tế thế nào đi chăng nữa nhưng với li rượu trên tay nâng mọi người ai nấy đều có lý do để chúc mừng năm mới; năm mới chúc nhau sức khỏe mới, chúc người già trường thọ, chúc trẻ nhỏ mau khôn lớn, chúc cho mùa màng bội thu, lợn gà sinh sôi, tiết trời thuận lợi, mưa thuận, gió hòa,...

Những hoạt động diễn ra vào ngày Tết:

- Trước khi Tết: trước khi diễn ra ngày tết bà con sắm sửa đi chợ mua rau cỏ, thức ăn, đồ dùng phục vụ ngày tết; lau rửa đồ dùng, nhà cửa sạch sẽ, sắp xếp lại đồ đạc, phát quan bụi rậm quanh nhà; chuẩn bị gạo, bột nếp, hái lá rong làm bánh; chẻ lạt bằng tre hoặc nứa để buộc thịt treo tết; làm giá bánh được đan bằng nẹp tre vát mỏng, có hai loại giá bánh một loại nhỏ cỡ khoảng 40cm2 và loại to cỡ khoảng 80 cm2.
- Trong tết: công việc đầu tiên và quan trọng nhất vào buổi sáng sớm ngày đầu tiên đón tết là mổ lợn tết, lợn tết được các gia đình nuôi nhốt trong năm để nó béo tốt nhất có thể, nhà nào không có thì đi mua lợn để đón tết, nhất định phải có con lợn tết. Lợn tết được dùng làm thờ cúng đồng thời làm thức ăn được chế biến thành các món khác nhau để ăn dần trong những ngày tết, những phần thịt chưa ăn hết sẽ được sẻ thành nhiều miếng nhỏ dài, xát muối và treo ở gác bếp để ăn dần (đó là biện pháp bảo quản tốt nhất của cha ông ngày trước trong điều kiện không có phương tiện bảo quản), phần mỡ sẽ được rán ra để trong chum và dùng dần trong năm. Những gia đình nuôi được lợn tết rất to khoảng hơn 1 tạ (100kg) có thể lưu giữ thịt đến giữa năm sau và mỡ đủ ăn cả năm.
Sau khi làm sạch hết lông thì lợn được mổ bụng làm sạch lòng sau đó lấy phần thịt gân ở chỗ nối phần sương chậu với sống lưng con lợn (người Hà Nhì gọi là "đhó xiq sà") và cắt một ít thịt tim, gan để nấu cơm cúng, một ít cơm cúng sẽ được dâng lên bàn thờ tổ làm thủ tục cúng tổ tiên mà người Hà Nhì gọi là “À pùy hứ đa” sau đó mới lấy xuống cả gia đình ăn mà theo lý thì mỗi người trong gia đình cần ăn một miếng cơm cúng và đồng thời ăn sáng luôn, sau bữa sáng sẽ là một ngày bận rộn với rất nhiều công việc. Thông thường đàn ông trong nhà sẻ thịt, chế biến và bảo quản thịt, nếu lợn to thì có thể mời anh em họ hàng sang giúp; phụ nữ làm bánh. Có hai loại bánh đặc trưng cho ngày tết đó là bánh chưng tiếng Hà Nhì gọi là “Hò qhúy” và bánh trôi tiếng Hà Nhì gọi là “Dja le” (không giống với người Việt, người Hà Nhì coi bánh trôi là bánh đặc trưng của ngày tết và người già thường nói nhau câu truyền miệng rằng “ăn một miếng bánh trôi lại già thêm một tuổi rồi”), bánh chưng được làm từ gạo nếp gói bằng lá rong mà thành phần cụ thể bao gồm gạo nếp đã được trộn với bột than của cây lúc lắc (djò gó ló bia qhiò) được dã nhuyễn cùng với gạo nếp tạo thành gạo nếp có màu đen thâm, bỏ thêm một miếng thịt (nửa thịt nửa mỡ là tốt nhất) đã được ướt muối cho vào giữa gạo nếp và gói lại cẩn thận bằng lá rong buộc lạt ngoài tạo thành những đốt trông rất hấp dẫn, cuối cùng cho vào nồi to để đun cho tới khi chín thì bỏ ra để ráo nước và ăn dần (khác với người Việt bánh chưng người Hà Nhì không ngâm gạo nếp trước khi gói). Còn bánh trôi thì được làm từ bột nếp được xay ra rất mịn, nhào bột với nước sạch để viên thành những chiếc bánh tròn cỡ như đầu ngón tay cái vậy, bánh trôi người Hà Nhì không có nhân kẹo giống như bánh trôi ngày Rằm của người Việt mà thay vào đó là chấm bánh vào đường đỏ đã được nấu chảy hoặc chấm muối vừng để ăn. Bánh trôi cũng có hai loại, một loại bình thường để mọi người ăn, một loại to hơn nhưng lại số lượng ít hơn chỉ vài chiếc dùng để thờ cúng và không ăn loại này, loại bánh để thờ được bày trên giá bánh nhỏ và loại bánh thường được bày trên giá bánh to. Riêng bánh trôi phải thờ cúng tổ tiên trước mới được ăn còn bánh chưng thì không, thế nên mới nói bánh trôi mang giá trị đặc trưng cho ngày tết là chỗ đó.
Vào buổi tối ngày đầu đón tết, nhà nào ai nấy đều sẽ tổ chức tiệc để mời anh em, họ hàng sang chơi chúc tết năm mới, nhà nào chưa kịp thì đi dự tiệc theo lời mời của anh em và những ngày tiếp theo cứ tiếp diễn khung cảnh náo nhiệt với lời ca tiếng hò nô nức khắp bản làng mừng vui đón tết.
Cũng vào buổi tối hôm đầu tiên lại diễn ra một hoạt động sinh hoạt đậm chất văn hóa dành cho những nam thanh nữ tú trong bản mà người Hà Nhì gọi là “Za za” hay nói cách khác là “Dja le sá” (nghĩa là “xin bánh trôi”), hoạt động diễn ra từ khoảng 7 giờ tối các nam thanh nữ tú được lựa chọn tập trung lại tại nhà ông Lý trưởng thành một nhóm gồm 5 -7 người Nam và Nữ, trước đông đảo mọi người chủ yếu người già tập trung ở nhà ông Lý trưởng đón tết ăn mừng thì các nam thanh nữ tú cúi đầu quỳ gối rồi lại đứng lên lạy ba lạy và nghe lời chúc năm mới của đại diện già làng và trong khi đoàn người quỳ lạy nghe lời chúc của già làng thì một người dự tiệc tại nhà ông lý trưởng (thường là cô dâu nhà ông lý trưởng) sẽ lần lượt vỗ mạnh vào lưng các Nam thanh Nữ tú trong đoàn tỏ ý động viên tinh thần và chúc anh em trong đoàn mạnh khỏe sau đó đoàn người bắt đầu xuất phát với người cầm chiêng, nhóm khiêng trống đập nhịp náo loạn dẫn đầu đoàn, theo sau là một cô gái khỏe mạnh gánh trên lưng chiếc gùi cùng can to để đựng rượu trên lưng và một cô gái khỏe mạnh khác gánh chiếc gùi để đựng bánh cùng với đó là gái trai bọn trẻ ùa theo hô vang “Dja le mà mià ó xó xì bị lạ...” (tạm dịch là “Bánh trôi ít nhưng hãy cho vài ba chiếc bánh”) cùng với tiếng chiêng, tiếng trống tạo thành một không khí rất sôi động, đoàn người lần lượt đi qua từng nhà trong bản để tiến hành “xin bánh”, mỗi gia đình sẽ chuẩn bị một gói bánh trôi bao gồm vài chiếc bánh và sẽ có một vài bánh trôi to được gói trong gói bánh này, kèm theo đó là một miếng thịt nhỏ dài và một chai rượu, chai rượu được đổ vào can rượu được gùi trên lưng người con gái và gói bánh cùng với miếng thịt được buộc lại với nhau được ném vào gùi và mọi người đồng thanh hô vang “Luy"... nghĩa là may mắn, nhà có điều kiện có thể cho thêm bánh kẹo cho đoàn.
Trong quá trình đoàn người “xin bánh” đi qua, có một số nhà đã chuẩn bị sẵn mâm cỗ để kéo lên (gư đa) hay lễ trang trọng gọi là mời cả đoàn vào nhà cùng ăn mừng ngày tết, xin nói thêm ở đây khi đoàn người đến nhà thì chủ nhà sẽ đem chiếc gùi bánh vào nhà và như vậy cả đoàn hiểu ý chủ nhà mời cả đoàn vào nhà dự tiệc.Tại đây những nam thanh nữ tú sẽ được thử sức với tiểu lượng của mình và sau một chốc vui mừng thì đoàn người lại tiếp tục hành trình của mình với hơi men nồng đoàn người càng lúc càng náo nhiệt chẳng mấy chốc hơi men lại biến đi đâu hết theo lời hô tiếng hò và cuộc hành trình kết thúc tại nhà ông Lý trưởng sau khi đã đi hết lần lượt các nhà (cá biệt có nhà có thân nhân qua đời trong năm thì đoàn người không xin bánh nhà đó) và tại đây đoàn người được nghỉ ngơi ăn uống.
Vào buổi chiều cách một ngày hôm sau tiếp tục là thời điểm nối tiếp ngày vui của buổi tối hôm làm lý "xin bánh" của các nam thanh nữ tú, các nam thanh nữ tú lại một lần nữa tập trung lại tại nhà ông Lý trưởng và tiến hành tổ chức bữa tổng kết với những “chiếm lợi phẩm” từ hôm trước, tại bữa tiệc các nam thanh nữ tú thỏa sức ăn uống. Phần bánh xin được từ tối hôm trước được rán lên chín vàng và chia thành từ phần nhỏ chia cho mọi người trong bữa tiệc và bà con ai cũng có thể tới nhà ông Lý trưởng để thưởng thức miếng bánh; phần thịt được chế biến thành các món ăn dân dã để ăn mừng và uống rượu, cuối bữa tiệc ai nấy đều say sưa và cùng nhau cất tiếng ca nhảy múa theo tiếng chiêng, nhịp trống dồn vang, nhịp trống chiêng truyền thống có điệu là “tùng.. tùng .. chiêng ........chiêng ... tùng ... chiêng......” , “tùng... tùng ... chiêng ...... chiêng... tùng... chiêng”, “tùng .. tùng .. chiêng ... chiêng .. chiêng” cứ lặp đi lặp lại như vậy, theo truyền thống phía mặt sau của trống còn có thêm một vũ đạo múa trống (Nhà nhì gọi là "lò đhù trsò"), người này cầm hai chiếc rùi trống và vừa múa vừa đánh trống theo nhịp đánh của người đánh chiêng trống, ngoài ra các bà các cô cũng múa theo nhịp trống chiêng trên tay cầm “chập chiêng” - "chsá ò" (một nhạc cụ truyền thống được đúc bằng đồng có hai mảnh như hai cái đĩa úp vào nhau, ở giữa có mấu lồi lên được đục một lỗ nhỏ buộc dây để tay nắm vào, khi chập vào nhau sẽ phát ra tiếng kêu như chiêng) hòa theo nhịp chiêng trống reo vang “chập .... chiêng ......, chập..... chiêng.....”. Bữa tiệc kết thúc với màn dạo chơi của các đôi nam thanh nữ tú. Đó là một nét đẹp hiếm có ở một tộc người giữa rừng núi.
Ngày tết người Hà Nhì thường kéo dài đến ngày mùng 2 năm mới, ngày mùng 01 bà con ở nhà đón tết cùng với gia đình, đến ngày mùng 2 bà con tập trung đi rừng, đi suối bắt chim, cá, hái rau rừng làm bữa khai xuân đầu năm mới ở trên rừng, đến ngày mùng 3 cơ bản là đã kết thúc kỳ nghỉ tết bà con trở lại cuộc sống lao động bình thường, bận rộng với một mùa vụ gieo trồng mới.
Khác với tết của người Việt, tết người Hà Nhì mang những dấu ấn của cuộc sống lao động khổ nhọc và những đồ ăn thức uống rất đặc trưng của dân tộc thiểu số là thịt lợn cùng với đó là thức uống không bao giờ có thể thiếu vào các ngày lễ chính là rượu, có thể nói rượu là thức uống kỳ diệu giúp những con người lao động xua tan đi nỗi mệt nhọc của một năm lao động khổ nhọc, là thứ nước uống giúp con người vui vẻ cho dù cuộc sống thường ngày có ra sao và tất nhiên điều đó là cần thiết vào những ngày tết. Bạn sẽ không thể từ chối một ly rượu mừng nếu bạn có dịp về với dân bản nơi đây. Người ta nói chén rượu mở đầu câu chuyện thì quả thực không sai chút nào khi ở đây.

Biên soạn: Cao A Gó

Nguồn gốc Dân tộc Hà Nhì - Nhìn lại hành trình di cư lịch sử

Không có nhận xét nào
Theo nhiều khi chép lịch sử cổ đại ở Trung Quốc có thể thấy dân tộc Hà Nhì hay (Hani) có lịch sử lâu đời và tương đồng với dân tộc Khương (Qiang) cổ đại với dân tộc Di (Yi) và dân tộc La Hủ (Lahu). Người Khương cổ đại là những người du mục trên cao nguyên Thanh Hải - Tây Tạng. Từ năm 384 trước Công nguyên đến năm 362 trước Công nguyên, thời gian này quyền lực của nhà Tần đã mở rộng nhanh chóng và thực hiện các hoạt động quy mô lớn để chinh phục các bộ tộc lân cận. Những người du mục Khương cổ đại sống trên cao nguyên Thanh Hải - Tây Tạng đã bị tấn công, phân tán và di cư, trong đó một nhóm người đã tách ra từ người Khương và được gọi với cái tên Khứa Di (Heyi). Theo ghi chép lịch sử bộ tộc Khứa Di hoạt động ở phía nam sông Dadu (một nhánh phụ lưu sông Dương Tử ngày nay) vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên được xem là tổ tiên của bộ tộc Hà Nhì ngày nay và là một nhánh của người Khương cổ đại di cư xuống phía nam. Từ thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên đến đầu thời nhà Đường vào thế kỷ thứ 8, một số tổ tiên người Hà Nhì đã di cư về phía tây đến khu vực Sông Lan Thương (Lancangjiang) hay sông Mekong  ở phía tây sông Hồng Hà (Yuanjiang). Trong văn học đời Đường cũng đề cập đến tổ tiên của bộ tộc Hà Nhì và gọi họ là Hòa Man (Heman). Vào giữa thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên, các thủ lĩnh của Hòa Man đã cống nạp cho nhà Đường và được Nhà Đường đưa tên của các thủ lĩnh của Hòa Man vào thư hoàng gia gửi các thủ lĩnh của các dân tộc khác nhau ở Vân Nam, và thừa nhận rằng tất cả họ đều đến từ thời nhà Đường. Cũng trong giai đoạn này ở khu vực phía tây Nam khu vực hồ Nhĩ Hải có nhiều cư dân làm nông nghiệp hình thành các bộ lạc như một vương quốc riêng biệt gọi là Chiếu, theo ghi chép có đến Lục Chiếu là: Mông Huề Chiếu, Việt Tích Chiếu, Lãng Khung Chiếu, Đằng Đạm Chiếu, Thi Lãng Chiếu, Mông Xá Chiếu. Mông Xá Chiếu ở về phía nam nên đôi khi gọi là Nam Chiếu.
Người Hà Nhì
(Ảnh: Dân tộc Hà Nhì có lịch sử lâu đời 
nguồn: internet) 

Việt Nam sử lược (VNSL) của Trần Trọng Kim có chép:

" Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả sáu chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Quy Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn... Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông quốc rồi lại đổi là Đại Lễ... "
Nam Chiếu
Bản đồ mô phỏng các quốc gia thời cổ đại
ảnh: internet
Vương quốc Nam Chiếu duy trì một mối quan hệ mật thiết với nhà Đường, và chính quyền Nam Chiếu là của hai tộc người Bạch và Di. Lập kinh đô từ năm 738 ở Thái Hòa (ngày nay là làng Thái Hòa, cách thành cổ Đại Lý vài dặm về phía nam). Nằm ở trung tâm của thung lũng Nhĩ Hải, khu vực này giúp cho người ta dễ dàng chống lại các cuộc tấn công và nó nằm giữa một khu vực đất đai nông nghiệp màu mỡ. Nam Chiếu quốc khi ấy là một hỗn hợp, tương tự hợp chủng quốc, có hơn mười mấy dân tộc quy tụ, song nhiều nhất phải kể đến Bạch Man (白蛮; tổ tiên của người Bạch) và Ô Man (乌蛮; tổ tiên của người Di). Ngoài ra còn có Hòa Man (和蛮; nay là người Hà Nhì), Thuận Man (顺蛮; nay là người Lật Túc), Ma Chút (磨些; nay là người Naxi), Tầm Truyện (寻传; nay là người A Xương), Lỏa Hình (裸形; nay là người Kachin), Kim Xỉ (金齿; nay là người Thái), Phác Tử Man (朴子蛮; nay là người Palaung, người Bố-lãng, người Va),... Tên các vua Nam Chiếu đặt theo cách dùng âm tiết cuối của tên cha để bắt đầu tên con, phổ biến trong người Lolo và các nhóm Tạng-Miến khác. Nam Chiếu hùng mạnh một thời gian đã bành trướng xâm chiếm nhiều vùng lãnh thổ lân cận trong đó có cả khu vực tây Bắc bộ của Việt Nam (An Nam) và toàn bộ tỉnh Vân Nam ngày nay, đến cuối thế kỷ 8 Nam Chiếu bắt đầu suy yếu dưới sức ép rất lớn của nhà Đường (Trung Hoa) và sau hàng thập kỷ chiến tranh liên tục Nam Chiếu sụp đổ vào năm 902, cư dân chạy loạn để trốn chiến tranh quốc gia trong đó có cả bộ tộc người Hà Nhì đã ly tán về nhiều nơi.

尼阿培聪坡坡
Bộ sử thi 尼阿培聪坡坡
(Hani Ape Cong Po Po)
ảnh: internet
Lịch sử cổ đại của dân tộc Hà Nhì thực sự là một lịch sử di cư dài và quanh co. Người Hà Nhì không chỉ có cuộc sống du mục "di cư qua những vùng nước và cỏ" trước khi họ định cư trên sông Dadu, mà sau khi định cư bằng nghề nông, họ buộc phải rời khỏi các khu định cư nông nghiệp cổ đại do chiến tranh và các lý do khác và di cư trở lại cho đến khi họ tiến vào dãy núi Ailao cận nhiệt đới ở Vân Nam. Xã hội của dân tộc Hà Nhì đã phát triển trong quá trình di cư dài và quanh co này. Mặc dù các tài liệu lịch sử của Trung Quốc không đủ và các tuyến đường di cư cụ thể của người Hà Nhì không được ghi lại rõ ràng, chúng ta vẫn có thể học hỏi từ nghiên cứu về nguồn gốc của bộ tộc Hà Nhì từ thế hệ các nhà sử học và dân tộc học cũ, một số lượng lớn các cuộc điều tra thực địa và người Hà Nhì. Quá trình di cư lịch sử này và sự thật lịch sử của dân tộc Hà Nhì được xác nhận trong nghiên cứu một số lượng lớn các dữ liệu truyền miệng được lưu giữ trong xã hội dân tộc Hà Nhì. Vào những năm 1980, trong xã hội Hà Nhì ở núi Ailao thuộc vùng cận nhiệt đới của Vân Nam, một sử thi về người Hà Nhì di cư là "Hani A Pe cong Po Po -哈尼阿培聪坡坡" (Ape: Tổ tiên, Cong Po Po: Di chuyển từ nơi này đến nơi khác) đã được khai quật ở vùng cận nhiệt đới núi Ailao Vân Nam nơi cộng đồng người Hà Nhì sinh sống. Việc khai quật và phân loại sử thi này đã bổ sung rất nhiều cho sự thiếu sót của các ghi chép lịch sử Trung Quốc về sự di cư và phát triển xã hội của người Hà Nhì.

Địa mạo Đan Hà (Danxia Landform)
Địa mạo Đan hà
ảnh: internet
Do dân tộc Hà Nhì không có chữ viết riêng nên toàn bộ văn hóa của người Hà Nhì được truyền từ đời này sang đời khác thông qua hình thức truyền miệng trong một thời gian dài. Do đó, lịch sử truyền miệng của người Hà Nhì có độ tin cậy và giá trị dữ liệu lịch sử cao. “Hani A Pe cong Popo” là một trong những sử thi tiêu biểu, đầy đủ và có hệ thống với hơn 5.600 dòng của người Hà Nhì được lưu truyền trong cộng đồng người Hà Nhì trên dãy núi Ailao, miêu tả chi tiết những khó khăn và cơ cực của tổ tiên người Hà Nhì đã di cư từ phía bắc vào nam trong những năm lịch sử dài. Toàn bộ bài thơ sử thi được chia thành 7 chương, mỗi chương mô tả một nơi mà cộng đồng người Hà Nhì đã sống và lý do họ chuyển đi. Nơi đầu tiên ghi lại vùng đất du mục của người Hà Nhì sớm nhất là (1) "Huni Huna”  – lhu ní lhu na (đá đỏ và đen xếp so le), đây có thể là Địa mạo Đan Hà (Danxia Landform) – địa điểm du lịch nổi tiếng ở Trung Quốc với những lớp đá đỏ đen nhiều mầu xếp chồng lên, thuộc Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ nằm ở cao nguyên Hoàng Thổ tây Bắc Trung Quốc. Tổ tiên của bộ tộc Hà Nhì sinh ra ở "Huni Huna" đã học cách giữ lửa, hái và săn bắn, nhưng theo thời gian, số lượng người săn bắn động vật hoang dã, ngày một tăng, người ta từng bỏ chạy khi thấy thú rừng, nay thú rừng đã chạy về phương xa, tổ tiên không tìm được thịt ... Cá ở hai con sông lớn ngày càng ngày càng ít đi, và Huni huna không phù hợp để định cư lâu dài của người Hà Nhì nữa họ đã di chuyển về phía nam đến (2) "Hồ Shisuhu"  (Hồ Shisuhu có thể là hồ Nhĩ hải ở tỉnh Vân Nam ngày nay) với nước và cỏ dồi dào và tại đây người Hà Nhì bắt đầu biết thuần dưỡng gia súc, gia cầm. Sau đó, do một thảm họa thiên nhiên, khu rừng bị cháy, nắng gió khắc nghiệt hồ lớn cạn trơ đáy, cây trồng héo khô không còn tài nguyên sinh sống và họ chuyển đến vùng (3) "Galugaze"  (suy đoán: đọc là “ga lha ga dzư” diễn tả cảm giác ẩm thấp, ớn lạnh, dễ sợ) trong Rừng Longzhucheng, có thể đây là một địa điểm trong rừng rậm âm u dễ sợ nên người Hà Nhì mới đặt tên như vậy.

Hành trình di cư người Hà Nhì
Hành trình di cư của người Hà Nhì từ Bắc vào Nam
ảnh: internet
Ở trong khu rừng Longzhucheng có thổ dân địa phương là "Azuo" đón tiếp nồng nhiệt cư dân Hà Nhì từ phương xa đến, họ dạy cách bẻ tre đan nón, người Hà Nhì phân phát gà vịt, thực phẩm và dạy họ trồng ngũ cốc. Tuy nhiên sống hòa thuận không được bao lâu sau đó, người vợ của Yanzha tộc trưởng "Azuo" đột ngột qua đời khiến Yanzha cho rằng người Hà Nhì đã mang tai họa đến cho họ nên đã trục xuất người Hà Nhì, vì vậy người Hà Nhì đã vội vã di chuyển về phía nam do tổ tiên "Xidou" dẫn đường đến (4) "Jalopchu"  trong thung lũng ấm và ẩm với lượng mưa dồi dào, và có liên hệ chặt chẽ với các nhóm dân tộc như "Azuo" và "Puni", nhưng không lâu sau do bệnh dịch trở nên phổ biến khiến một số lượng lớn người chết buộc họ phải băng qua một con sông lớn về phía nam để đến đồng bằng xinh đẹp (5) "Numa Amei"  đây rất có thể là địa danh được người Hà Nhì ở Việt Nam nhớ đến với tên là “Nà Ma đầu nguồn” được bao quanh bởi hai con sông. Tại đây, người Hà Nhì bắt đầu sản xuất nông nghiệp và định cư thực sự, đồng thời phát triển nông nghiệp lên một tầm cao mới. Cuộc sống của họ rất hạnh phúc, phát triển thịnh vượng. Kinh tế phát triển, "Numa Amei" trở nên nổi tiếng, nhiều bộ tộc khác đến giao thương với người Hà Nhì. Trong đó có câu chuyện về con trai của tộc trưởng "Rabo" yêu con gái của Ebony là tộc trưởng người Hà Nhì, sau khi cưới con gái Ebony làm vợ con trai Rabo giao những ngọn núi tốt, sông, ruộng và đất dưới tên của mình, và khuyến khích người vợ nhẹ dạ lừa gạt lấy vương trượng và dải băng trong tay Ebony. Sau khi có được vương trượng quyền lực, "Rabo" tuyên bố rằng "Numa Amei" là lãnh thổ của người "Labe", và yêu cầu người Hà Nhì chuyển ra khỏi "Numa Amei" ngay lập tức. Người Hà Nhì đấu tranh nhưng bị đánh bại và phải rời khỏi "Numa Amei" di chuyển về phía nam đến (6) "Se'e Zuo Niang". Để tránh chiến tranh, họ di chuyển về phía đông đến (7) "Guhamicha" và được thổ dân địa phương là "Puni” chấp thuận sống ở đó. Khi dân số Hà Nhì tăng lên và kinh tế phát triển, Puni phát động chiến tranh vì sợ hãi. Quy mô của cuộc chiến này rất lớn, tộc người Hà Nhì gần như bị diệt chủng, họ bị đánh bại và di chuyển về phía nam, sau khi đi qua các địa điểm như "Natuo" và "Shiqi", cuối cùng họ đã vượt sông Hồng Hà về phía nam tiến vào vùng núi Ailao và một số về vùng núi phía bắc Việt Nam.

"Hani APe cong Popo" mô tả con đường di cư hoàn chỉnh của người Hà Nhì từ bắc vào nam, và ghi lại tên các khu vực hoạt động chính. Tuy nhiên, do sự thay đổi của các địa danh cổ đại và hiện đại và sự khác biệt lớn giữa ngôn ngữ Hà Nhì cổ đại và hiện đại, rất khó để tìm ra nơi mà loạt địa danh được mô tả ở Guhani ngày nay đề cập đến. Nhưng sử thi về cơ bản là chính xác cho hướng di cư chung của người Hà Nhì, bởi vì cả người Hà Nhì và người Di đều có nguồn gốc từ người Khương cổ đại. Lộ trình di cư xuống phía nam của người Hà Nhì được mô tả trong sử thi này và những địa danh được ghi lại là vô cùng quý giá. Chính sự tồn tại của những địa danh cổ này và những bản sử thi miêu tả cụ thể và sinh động về những khu vực được chỉ ra bởi những địa danh này, đã cung cấp manh mối cơ bản cho việc nghiên cứu, khảo sát và nghiên cứu văn bản, đồng thời cung cấp những thông tin vô cùng quý giá để nghiên cứu thêm về nguồn gốc và sự di cư của tộc người Hà Nhì. Quan trọng hơn, sử thi này không chỉ liên quan đến nguồn gốc dân tộc và sự di cư của người Hà Nhì, mà còn liên quan trực tiếp đến sự phát triển và tiến hóa của các hình thái kinh tế xã hội của dân tộc này trong quá trình di cư.

Nghệ nhân Pờ Lóng Tơ
Nghệ nhân Pờ Lóng Tơ miệt mài ghi chép để bổ sung hoàn thiện bộ sử thi
ảnh: qdnd.vn
Tiếp nối quá trình lịch sử di cư của người Hà Nhì được ghi nhận trong sử thi "Hani A Pe cong Popo", người Hà Nhì ở Việt Nam còn lưu truyền một bộ sử thi gọi là “Há Pà P’hùy ca Na ca” do nghệ nhân Pờ Lóng Tơ ở bản Mù Cả, xã Mù Cả, huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu sưu tầm và biên soạn ghi lại cuộc hành trình di cư của người Hà Nhì từ vùng đất cổ Na Tro Tro Ứ nằm bên dòng sông Ha Sa (Hồng Hà), có cánh đồng lớn bên sông được dẫn nước bởi mười hai con mương, có bản lớn Hà Nhì bảy nghìn hộ ở giữa thật giàu có, được bảo vệ bởi hàng rào đan dây thép, được ngăn cách với người Hán bởi dòng sông có con rồng cai quản, bởi giao lộ mười hai ngả đường lớn với bảy mươi lối rẽ đường cong do con voi chúa trấn giữ. 
Nà Ma đầu nguồn
Nơi Hà Nhì sinh sống là Nà Ma đầu nguồn
Nơi bản Hà Nhì ở là Sùy P’hùy À Cò
Nơi bàn luận quyết định là Lé Lu À Khó
Nơi học hỏi lý lẽ là Sùy P’hùy À Cò
Ha Sa rộng to nước tưới bằng mười hai nhánh mương
Ở giữa bản Hà Nhì bảy nghìn hộ
Na Tro Tro Ứ bình yên đó
Là đất của tổ tiên người Hà Nhì ở đó.
Ở giữa đông vui bảy nghìn hộ
Được bao bọc bởi hàng rào thép đan
Hàng rào thép bao kín xung quanh bản
Mười hai con mương dẫn nước vào đồng
Chỗ cuối bản có một bụi tre
Dành làm nơi hành quyết người phạm tội
Gốc cây bưởi là chỗ để thịt dê
Gốc cây sổ để thịt trâu bò đấy
Thịt trộm mèo ở góc khuất trong nhà
Phiến đá ngoài hiên dành làm nơi thịt lợn
Dù một ngày chẳng thịt được mười con
Nhưng mười ngày cũng được một con đấy.
Có hàng rào đan bằng dây thép
Bao bọc bảo vệ khắp xung quanh
Bản ở giữa cũng bao hàng rào thép
Bảy mươi đôi cọc cắm đều nhau
Chúa tể rừng xanh con voi to đuôi ngắn
Tổ tiên ta thuần phục được nó về
Để giữ ranh giới Hà Nhì – Hán
Trấn thủ dòng Ha Sa nước lớn
Là con rồng lặn dưới đáy sông sâu”

(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
Sử thi còn kể về dịch bệnh hủi (hay bệnh Phong) đã khiến cho một cô gái lâm vào hoàn cảnh bi thương – bị thả bè trôi sông. Nhưng rồi cô gái được bà cô cứu, lại vô tình được con rồng dưới đáy sông Ha Sa làm cho khỏi bệnh và được trở về bản. Nhưng cô không về một mình mà còn đem theo một chàng trai người Hán do con rồng đưa đến. Đó cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tranh chấp và xung đột.
Đã từng chịu khổ không ai biết
Mười lần chịu rét chẳng ai hay
Chịu mười trận nóng như thiêu đốt
Đã từng nhịn đói suốt mười ngày
...
Ống xương con suýt làm cầu qua suối
Thịt của con suýt làm phân bón rồi
Xương sườn con suýt bị phơi ngoài bãi
Bồng bềnh trôi theo nước dòng sông
...
Bà cô chạy tìm khắp bãi sông
Mới thấy một hang đá để giấu
Cứ ban ngày thì nguỵ trang che kín
Chẳng bén mảng đến lấy một lần
Nhưng đêm đến khi mọi người đã ngủ
Lại xách cơm mang đến để cho ăn
Chỉ sợ cha mẹ phát hiện ra
Thì mọi chuyện sẽ không yên ổn được

(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
Sử thi kể về cuộc tranh chấp âm thầm nhưng quyết liệt giữa một bên là lực lượng bảo vệ lý lẽ và những tập tục truyền thống của Hà Nhì mà đại diện là anh con trai trưởng trong nhà và một bên là lực lượng người Hán với đại diện là tên con rể và cô vợ người Hà Nhì nhẹ dạ. Chúng dần chiếm hết nhà cửa, đất đai, của cải, hãm hại con voi chúa, đánh tráo cái ống thần của người Hà Nhì. Sau đó, kiếm cớ để tiến đánh, thôn tính đất đai của người Hà Nhì.
Nếu một ngày trâu ngựa bước chân sang
Sẽ đánh cho chết ngay lập tức
Cho phân mốc xương mục ngay tức khắc
Đánh cho chân ngựa chổng lên trời
Đánh cho ruột ngựa phơi ra đất
...
Rõ người Hán lắm mưu sâu kế hiểm
Như rái cá lặn dưới đáy vũng sâu
Đấu trí thì Hà Nhì thua Hán
Cật nứa sắc nhưng vẫn cùn hơn dao
Sức Hà Nhì hơn nhưng mưu Hà Nhì kém
Chân vịt to cũng chẳng bằng diều hâu
....
Đạn người Hán rơi dầy tựa sao sa
Máu người chết chảy thành dòng đỏ thẫm

(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
Sử thi kể về cuộc di cư bi thảm, thê lương của người Hà Nhì. Trong quá trình di cư, người Hà Nhì dần bị ly tán, phần thì do bị cộng đồng người khác bắt làm nô lệ, phần thì rơi rớt trên những địa điểm dọc theo tuyến đường di cư. Số còn lại đến sinh sống ở một địa điểm khác và không còn liên hệ gì với các nhóm đã bị ly tán dọc đường.
Cánh tay thì dắt theo con lớn
Còn con nhỏ lót lá địu sau lưng
Như con ruồi bậu vào đít con trâu
Như loài muỗi, dĩn đuổi sau con cừu mẹ

(Trích đoạn sử thi “Há Pà P’hùy ca Na ca”)
Do chủ quan, quân Hà Nhì không chống đỡ nổi, thua và mất đất, khiến họ phải di cư về phương Nam. Một trong những điểm đến đó là Việt Nam.
Trong cuộc di cư này, sử thi "P'huỳ ca Na ca" nói về nơi đến cuối cùng của người Hà Nhì là đầu nguồn Khó Ma, vùng đất hiện nay thuộc địa phận xã Pa Ủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Địa danh Khó Ma được miêu tả trong sử thi "P'huỳ ca Na ca" là “nơi có nhiều sản vật”, và rằng “uống rượu ngọt không cần phải trộn men, hạt cơm ăn cũng chẳng dùng chày giã”. Đó chính là các loại cây lõi có bột (báng, móc, cọ). Hiện nay, cộng đồng người La Hủ ở các xã Pa Ủ và Pa Vệ Sủ vẫn khai thác các loại cây này để ăn và nấu rượu. Người La Hủ ở đây còn nói rằng khi người La Hủ đến đây thì đã thấy có những đám ruộng bậc thang của người Hà Nhì. Chắc hẳn là sau khi tạm thời ăn bột lõi cây rừng sống qua ngày, người Hà Nhì đã tích cực khai khẩn ruộng bậc thang. Sau đó, một phần do số lượng dân cư tăng lên, mặt khác do tìm được những vùng đất mới tốt hơn nên người Hà Nhì đã rời đi.

So sánh với sử liệu trên sử thi "Hani A Pe cong Popo" có thể thấy địa danh Na Tro Tro Ứ trong sử thi "Há pà P'hùy ca na ca" là một tên biệt danh hay tên bản nào đó ở vùng đất “Numa Amei” được nhắc đến trong sử thi "Hani A Pe cong Popo", đó là một vùng đất đồng bằng trùng phú rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và tổ chức dân cư. Trong sử thi "Hani Ape Cong Po Po" không thấy nhắc đến tên Na Tro Tro Ứ, kết hợp với một số truyện cổ tích, truyền thuyết vẫn còn lưu truyền khi đó tộc người Hà Nhì được phân bố thành nhiều điểm dân cư (bản trên, bản giữa, bản dưới) vì vậy rất có thể nhóm người Hà Nhì đã ly tán do chiến tranh về phía Nam xuống đầu nguồn Khó Ma trước khi xẩy ra chiến tranh đã ở trong một bản đông vui, sung túc có tên là Na Tro Tro Ứ ở vùng đồng bằng "Numa Amei", trong khi nhóm người Hà Nhì ở các bản khác đã ly tán và trốn khỏi "Numa Amei" tới những địa điểm nằm trong địa phận Trung Quốc quanh dãy núi Ailao vì thế sử thi "Hani Ape Cong Po Po" được khai thác ở cư dân khu vực núi Ailao không ai còn nhớ và nhắc đến tên "Na Tro Tro Ứ" như sử thi Há pà P'hùy ca Na ca đã nhắc đến, giữa hai sử thi có một mai mối chung và gần như là điểm nối giữa hai sử thi này đó là khu vực cư trú ở "Numa Amei" (trong Sử thi "Há pà P'hùy ca na ca" có nhắc đến "Nà Ma đầu nguồn" theo tiếng Hà Nhì là "Nà Ma a (lo) mé" tương đồng với cách diễn đạt "Numa Amei". Nếu sử thi "Hani Ape Cong Po Po" nói về hành trình di cư một cách chân thực trải dài từ khi người Hà Nhì tự nhận thức được là một dân tộc riêng đi qua nhiều địa danh và xuống đến định cư ở vùng "Numa Amei" và tiếp tục nói về hành trình lưu lạc đến những vùng khác nhau ở hai bên bờ sông Hồng Hà và dãy núi Ailao ở Vân Nam, Trung Quốc thì sử thi "Há pà P'hùy ca Na ca" lại tiếp nối câu chuyện với nhiều chi tiết hình tượng hóa, hư cấu pha lẫn yếu tố thần thoại kể lại hành trình di cư lưu lạc của nhóm người Hà Nhì tách ra từ khu vực cư trú tập trung ở "Numa Amei" về phía Nam xuống đầu nguồn Khó Ma ở Lai Châu, Việt Nam. Như vậy, sử thi "Hani Ape Cong Po Po" phản ánh được lịch sử người Hà Nhì từ khi xuất hiện đến khi có cuộc sống cư trú ổn định trên dãy núi Ailao và hai bên bờ sông Hồng Hà, còn sử Thi "Há pà P'hùy ca Na ca" tiếp nối sử thi nói trên và chủ yếu tập trung ghi lại những sự kiện xoay quanh nhóm người Hà Nhì từ khi tách ra từ "Numa Amei" về phía Nam xuống đầu nguồn Khó Ma ở Việt Nam.

Qua hai bộ sử thi kể trên có thể thấy dân tộc Hà Nhì từ khi xuất hiện đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, thử thách của lịch sử dân tộc, qua chiến tranh họa nạn, trốn chui trốn lủi xuất chiều dài lịch sử để có được cuộc sống như ngày hôm nay.
ps: bài viết có liên quan đến nhiều cứ liệu lịch sử được lược dịch từ một số tài liệu của các nhà khoa học Trung Quốc do vậy một số thông tin chỉ mang tính chất suy đoán, giả thiết của tác giả có thể chưa chính xác, nhưng đây là những thông tin tham khảo bổ ích để giải thích cho sự xuất hiện của dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam, mong bạn đọc cũng nghiên cứu tổng hợp thông tin để đóng góp vào kho tri thức của dân tộc Hà Nhì và làm rõ cội nguồn của dân tộc Hà Nhì.

Lược dịch và tổng hợp: Cao A Gó - Tác giả trang web.
---------------------
Xem bài Sơ lược lịch sử người Hà Nhì ở Việt Nam, tại đây

Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm với từ khóa:
- 哈尼族 (dân tộc Hà Nhì)
- 哈尼阿培聪坡坡 (tên sử thi Hani Ape Cong Po Po)
- Sử thi Há pà P'hùy ca Na ca
- Nghệ nhân Pờ Lóng Tơ

Tài liệu tham khảo:

1. Trích và lược dịch từ bài viết: 哈尼族- 中央政府门户网站 www.gov.cn   2006年04月14日 10时17分   来源:国家民委网站 – Dân tộc Hà Nhì Cổng thông tin điện tử Chính phủ Trung ương www.gov.cn 14/04/2006 10:17 Nguồn: Trang web Ủy ban Nội chính Trung ương Trung Quốc.

2. Thư viện bách khoa mở Wikipedia tiếng Việt: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Chiếu

3. Tác giả Bùi Quốc Khánh, bài viết: SỬ THI – HÁ PÀ “PHUỲ CA NA CA” CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở MƯỜNG TÈ trên trang TaDRI (Viện nghiên cứu truyền thống và phát triển): http://tadri.org/